- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc T. phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 140 Bộ luật hình sự n…"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm dân sự: Tách ra để giải quyết thành vụ án dân sự khi các đương sự có yêu cầu.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2018/HS-ST Ngày 05-02-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Viên
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Bạn
Ông Trần Huy Liên
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Long – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 02/2018/TLST-HS ngày 03/01/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2018/QĐXXST-HS ngày 25/01/2018 đối vớ i bị cáo:
Nguyễn Quốc T. sinh ngày 01/9/1993 tại Khánh Hòa; nơi cư trú: 12 V., phường P., thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiê ̣p: Lao động tự do; trình đô ̣ văn hóa : 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quốc C. (chết) và bà Nguyễn Thị Kim H., sinh năm 1964; tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại và bị cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo T. có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Trịnh Ngọc H., sinh năm 1993. Nơi cư trú: C. 3, Bãi Giếng, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa. Ông H. vắng mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Ngọc H., sinh năm 1991; nơi cư trú: 202 D., phường V., thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Ông H. vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 09/11/2017, trong lúc Nguyễn Quốc T. uống cà phê với Trịnh Ngọc H. tại quán 147 Phương Sài, Nha Trang, T. có hỏi mượn xe máy Exciter (BKS 79Z1-282.08) của H. để đi công việc. H. đồng ý và giao xe cho T. Sau khi giải quyết công việc xong, T. điều khiển xe đi đến tiệm game trên đường Võ Văn Ký chơi đá banh ảo và thua hết 2.000.000đ. Lúc này, T. nảy sinh ý định cầm thế xe máy của H. để lấy tiền chơi tiếp. T. vào trang web Nha Trang Club tìm được số điện thoại của Nguyễn Ngọc H., sau đó liên lạc và cầm thế xe máy cho H. với giá 10.000.000đ. Khi lấy được tiền, T. đến tiệm game trên tiếp tục chơi đá banh ảo và thua hết 10.000.000đ. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 11/11/2017, T. điện thoại cho H. kể lại sự việc đã cầm thế xe và nói H. đem theo tiền để T. dẫn tới nơi đã cầm thế chuộc xe. H. đến cơ quan công an trình báo và hẹn T. đến đường Huỳnh Thúc Kháng để nói chuyện. Khi H. và T. gặp nhau tại địa điểm đã hẹn thì cơ quan công an đã mời cả hai về trụ sở làm việc. Tại đây, T. đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại biên bản định giá tài sản số 408/HĐĐG ngày 23/11/2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Nha Trang kết luận, xe máy Exciter (BKS 79Z1-282.08) có giá trị 39.576.000đ.
Tại bản cáo trạng số 38/CT-VKS ngày 02/01/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Quốc T. về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 140, điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 đối với bị cáo Nguyễn Quốc T., xử phạt bị cáo T. từ 06 đến 09 tháng tù giam.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liê ̣u trong hồ sơ vụ án đa đượ̃
c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người bị hại ông Trịnh Ngọc H.; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc H. mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, xét thấy việc vắng mặt của các đương sự có tên trên không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông H. và ông H. theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Quốc T. đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Cáo trạng số 38/CT-VKS ngày 02/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang truy tố bị cáo Nguyễn Quốc T. về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Do vậy, cần thiết phải xử lý bị cáo thật nghiêm khắc, cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phát huy hiệu quả phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên, bị cáo T. phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã được thu hồi và trả lại cho người bị hại nên áp dụng quy định tại điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Trịnh Ngọc H.; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc H. vắng mặt tại phiên tòa nên tách phần bồi thường thiệt hại để giải quyết bằng vụ án dân sự khi các đương sự này có yêu cầu.
. Về vật chứng: 01 xe máy Exciter (BKS 79Z1-282.08) đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Trịnh Ngọc H. nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Quốc T. phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 140; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bô ̣ luâ ̣t hình sự năm 1999, tuyên bố bi ̣ cáo Nguyễn Quốc T. phạm tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T. 06 (sáu) tháng tù. Thờ i hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt giam thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Tách ra để giải quyết thành vụ án dân sự khi các đương sự có yêu cầu.
- Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã trao trả tài sản bị mất cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét về phần vật chứng.
- Về án phí: Áp du ̣ng Điều 136 Bô ̣ Luâ ̣t Tố tu ̣ng hinh sự năm 2015; Nghị
̀ quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án Buộc bị cáo Nguyễn Quốc T. phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền khá ng cá o bản á n sơ thẩm trong thờ i
hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngườ i bi ̣ hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Nha Trang; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Bị cáo, người bị hại; - Cơ quan điều tra công an TP. Nha Trang; - TAND tỉnh Khánh Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - Chi cục THADS TP. Nha Trang; - Lưu án văn, hồ sơ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phan-Chủ tọa phiên tòa ́ Nguyễn Lê Viên |