vanban.org

Bản án 37/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 30/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 27/5/2018. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẬP THẠCH
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2018/HS-ST
Ngày 30-7-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nghĩa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Thiệu

Ông Trần Anh Tuấn

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Lăng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thúy Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2018/TLST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2018. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2018/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Q, sinh năm 1980 tại Hà Nội; nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Văn Thúy H, có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/5/2018, tạm giam từ ngày 31/5/2018 (có mặt);

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Anh Phạm Ngọc H, sinh năm 1997 (vắng mặt);

+ Ông Phạm Văn D, sinh năm 1974 (vắng mặt);

Đều trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19h00’ ngày 25/5/2018, Nguyễn Văn Q thuê xe taxi từ nhà mục đích đến thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc chơi. Khi đi đến khu vực bến xe khách ở thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, Q xuống xe và đi vào lề đường hỏi thăm một người đàn ông khoảng 30 tuổi ngồi trên xe máy xem có ai bán ma túy tinh thể đá để mua sử dụng. Người đàn ông này nói có và đã bán cho Q 01 gói ma túy tinh thể đá với giá 500.000đ. Sau đó, Q tiếp tục đi đến thị trấn L, huyện L và vào nhà nghỉ H thuê phòng số 303 để nghỉ ngơi. Tại đây, Q lấy gói ma tuý mua được ở thành phố V ra sử dụng một ít còn lại vẫn để trong gói nhỏ được bọc phía ngoài bằng nilon và để trên mặt bàn uống nước cạnh giường ngủ trong phòng 303. Đến khoảng 08 giờ ngày 27/5/2018, anh Phạm Ngọc H là con trai của ông Phạm Văn D (chủ nhà nghỉ H) lên yêu cầu Q trả tiền thuê phòng. Khi Q mở cửa phòng ra, anh H nhìn thấy gói nhỏ mà Q để trên bàn uống nước, anh H nghĩ đây là ma túy nên định chờ Q trả tiền thuê phòng xong sẽ gọi điện trình báo cơ quan Công an. Tuy nhiên, Q không có tiền để trả tiền thuê phòng, giữa Q và anh H xảy ra cãi nhau, Q dùng tay đấm vào mặt anh H thì ông D đến can ngăn. Sau đó, anh H gọi điện thoại trình báo toàn bộ sự việc trên với Công an thị trấn L. Công an thị trấn L và Công an huyện L đến làm việc, kiểm tra phòng 303 và phát hiện gói ma túy tinh thể đá của Nguyễn Văn Q để trên mặt bàn uống nước cùng các đồ vật Q dùng để sử dụng ma túy. Cơ quan Công an lập biên bản sự việc và thu giữ: tại mặt bàn uống nước kê cạnh giường ngủ trong phòng 303 của nhà nghỉ H 01 gói nhỏ được bọc phía ngoài bằng nilon, bên trong có chứa các hạt tinh thể dạng đá màu trắng (Q khai nhận đây là gói ma túy tinh thể đá mua ở thành phố V từ ngày 25/5/2018 để sử dụng nhưng chưa sử dụng hết) - được niêm phong ký hiệu A1; 01 vỏ chai nước bằng nhựa và 01 ống hút bằng nhựa đều đã qua sử dụng (Q khai nhận đây là các đồ vật của Q để sử dụng ma túy).

Cùng ngày cơ quan Cơ quan điều tra Công an huyện Lập Thạch quyết định trưng cầu giám định số ma túy thu giữ của Nguyễn Văn Q, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc có văn bản số 688/KLGĐ ngày 30/5/2018 kết luận:

“Tinh thể dạng đá màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng là 0,2365g, loại Methaphetamine”.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Văn Q tại khu vực bến xe khách ở thành phố V do Q không xác định được tên tuổi, lai lịch và các thông tin khác nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Đối với anh Phạm Ngọc H và ông Phạm Văn D: khi Q đến thuê phòng nghỉ đã nhắc nhở Q nghiêm chỉnh chấp hành nội quy của nhà nghỉ. Quá trình Q tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy ông D và anh H không biết. Sáng ngày 27/5/2018 khi phát hiện Q tàng trữ trái phép chất ma túy thì ông D và anh H đã chủ động trình báo với cơ quan Công an. Việc Q không trả tiền thuê phòng và dùng tay đấm vào mặt anh H vì số tiền thuê phòng không lớn, anh H cũng không bị thương tích gì nên ông D và anh H không yêu cầu, đề nghị gì.

Bản Cáo trạng số 42/CT-VKS ngày 05/7/2018, Viện kiểm sát nhân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Văn Q đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn Q từ 18 tháng đến 24 tháng tù, không phạt bổ sung, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo Nguyễn Văn Q nói lời sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là sai, bị cáo rất ăn năn, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỒI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lập Thạch, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân huyện Lập Thạch đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người liên quan, biên bản sự việc, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định…. và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 08 giờ ngày 27/5/2018, tại phòng 303 của nhà nghỉ H thuộc tổ dân phố T, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Văn Q có hành vi tàng trữ 0,2365gam ma túy Methaphetamine và thu giữ của Q 01 vỏ chai nước bằng nhựa, 01 ống hút bằng nhựa.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy do bị cáo Nguyễn Văn Q thực hiện đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy… thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

…c, Methamphetamine…có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05 gam”.

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Ma tuý là tệ nạn cần phải loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội vì nó làm sói mòn đạo đức, lối sống của một bộ phận thanh niên, ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm nhằm mục đích giáo dục riêng, phòng ngừa chung góp phần phục vụ việc giữ vững an ninh chính trị tại địa phương và làm gương cho người khác.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là thanh niên có sức khỏe nhưng không chịu rèn luyện để trở thành công dân tốt, không chịu làm ăn lương thiện mà lao vào con đường phạm tội. Do đó cần áp dụng hình phạt tù thật nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù một thời gian phù hợp mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[4]. Về việc áp dụng hình phạt bổ sung: Việc tàng trữ trái phép chất ma túy mà bị cáo Nguyễn Văn Q thực hiện là để bị cáo sử dụng ma túy, chưa đem nguồn lợi gì cho gia đình, bản thân bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản gì lớn nên không cần thiết phải phạt bị cáo một khoản tiền sung quỹ Nhà nước.

[5]. Đối với anh Phạm Ngọc H và ông Phạm Văn D: Khi Q đến thuê phòng nghỉ đã nhắc nhở Q nghiêm chỉnh chấp hành nội quy của nhà nghỉ, quá trình Q tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy ông D và anh H không biết. Đến sáng ngày 27/5/2018 khi phát hiện Q tàng trữ trái phép chất ma túy thì ông D và anh H đã chủ động trình báo với cơ quan công an. Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

Việc Q không trả tiền thuê phòng và dùng tay đấm vào mặt anh H nhưng anh H không bị thương tích gì, ông D và anh H không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6]. Về xử lý vật chứng:

01 vỏ chai nước, 01 ống hút bằng nhựa là các đồ vật Q dùng sử dụng trái phép chất ma túy, đều đã qua sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với gói mẫu vật hoàn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.

[7]. Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 27/5/2018. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

- Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ chai nước bằng nhựa, 01 ống hút bằng nhựa, 0,0944 gam Methamphetamine và toàn bộ bao gói còn lại sau giám định.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/7/2018).

- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ