- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Văn T 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển, phương tiện giao thông đường bộ” - phạm tội vi phạm quy đ…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển, phương tiện giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37 /2018/HS-ST Ngày: 20 - 6 - 2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn ThÞ ChiÒu
¤ng NguyÔn Xu©n Tr êng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phượng Khá - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2018/TL-HSST ngày 24 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2018/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1960 tại huyện P, Thành phố Hà Nội; nơi cư trú: thôn V, xã V, huyện P, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Gọt (đã chết) và bà Nguyễn Thị Ấ; có vợ, Phùng Thị T, có 02 con, lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 30/9/1996 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tây xử phúc thẩm phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội hành hạ vợ; danh bản, chỉ bản số 071 ngày 11/02/2018 của Công an huyện Đ, Thành phố Hà Nội; Bị cáo tại ngoại có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Bá Đ, sinh năm 1989; nơi cư trú: Cụm 2, xã L, huyện Đ, Thành phố Hà Nội (đã chết).
- Người ®¹i diÖn hîp ph¸p cña bị hại:
1. Ông Nguyễn Bá V, sinh năm 1958;
2. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1961
3. Chị Trần Thị H, sinh năm 1991;
4. Cháu Nguyễn Bá Duy A, sinh năm 2014
5. Cháu Nguyễn Bá Bảo N, sinh năm 2017.
Cùng nơi cư trú: Cụm 2, xã L, huyện Đ, Thành phố Hà Nội.
Người được ông Nguyễn Bá V, bà Nguyễn Thị X, chị Trần Thị H ủy quyền: Anh Nguyễn Bá Đ1, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Cụm 2, xã L, huyện Đ, Thành phố Hà Nội; có mặt.
Ng êi ®¹i diÖn cho ch¸u Duy A vµ ch¸u B¶o N: ChÞ TrÇn ThÞ H, sinh n¨m 1991 (mÑ ch¸u Duy A vµ ch¸u B¶o N) §Þa chØ: Cụm 2, xã L, huyện Đ, Thành phố Hà Nội.
- Nguyên đơn dân sự: Công ty cổ phần Nam Thăng Long P; địa chỉ: Thôn K, xã K, huyện P, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật là: Ông Ngô Xuân N. Chức vụ: Giám đốc; vắng
mặt.
Người làm chứng:
1. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1955; vắng mặt.
2. Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1967;vắng mặt.
Cùng tró t¹i: Cụm 1, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội.
3. Chị Nguyễn Thị Loan, sinh năm 1973; nơi cư trú: Cụm 9, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội; vắng mặt.
4. Anh Đỗ Văn N, sinh năm 1977;vắng mặt.
5. Anh Nguyễn Bá T, sinh năm 1978; vắng mặt.
Cùng nơi cư trú: Cụm 1, xã L, huyện Đ, Thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 04/10/2017, Nguyễn Văn T, sinh năm 1960; trú tại thôn V, xã V, huyện P, Thành phố Hà Nội điều khiển xe ô tô tải, biển số 29H-06031 (Có giấy phép lái xe hạng C) chở gạch từ nhà máy gạch Anpha thuộc xã H, huyện Đ đi theo đường đê sông Hồng đến quận Hoàng Mai. Khi đến đoạn đường đê quai thuộc xã L, huyện Đ, Thành phố Hà Nội thì T thấy anh Nguyễn Bá Đ sinh năm 1989; trú tại: Cụm 2, xã L, huyện Đ, Thành phố Hà Nội điều khiển xe mô tô biển số 30X3-5400 đi cùng chiều, lạng lách ở phía sau và muốn vượt xe ô tô của T, nên T điều khiển xe ô tô đi sát vào bên phải đường để cho anh Đ vượt qua. Sau khi vượt lên anh Đ điều khiển xe mô tô đi ở phần giữa đường, T bấm còi, nháy đèn xi nhan xin vượt nhưng anh Đ không nhường đường. Thấy phía trước ngược chiều không có phương tiện nào tham gia giao thông T điều khiển xe ô tô sang trái đường và vượt xe mô tô của anh Đ.Trong khi vượt thì phần đầu xe ô tô bên phải của T đã va chạm với phần cánh yếm bên trái xe mô tô của anh Đ làm xe mô tô bị đổ
- 2 -
và anh Đ ngã xuống đường, bánh sau bên phải xe ô tô của T chèn qua người. Hậu quả làm anh Nguyễn Bá Đ tử vong tại chỗ.
Sau khi xảy ra tai nạn giao thông, Cơ quan điều tra Công an huyện Đ đã tổ chức khám nghiệm hiện trường vào hồi 20 giờ 40 phút ngày 04/10/2017, khám nghiệm phương tiện giao thông vào ngày 13/10/2017 và khám bổ sung ngày 02/11/2017. Tại bản giám định pháp y số 6211/PC54 – PY, ngày 03/11/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an Thành phố Hà Nội giám định pháp y tử thi đối với anh Nguyễn Bá Đ kết luận: Cơ thể biến dạng, trên cơ thể nhiều vết sây sát, rách da nham nhở và tụ máu, trong đó có vết thương sọ não hở; Tổ chức dưới da đầu tụ máu nặng, Xương sọ bị vỡ làm nhiều mảnh. Toàn bộ tổ chức não bị giập nát, tụ máu, phần lớn thoát ra ngoài. Hệ thống xương hàm mặt, xương ức, xương đòn, xương sườn, xương chậu và xương sống bị giập vỡ gãy. Nguyên nhân dẫn đến cái chết của anh Nguyễn Bá Đ: Đa chấn thương, có vỡ xương sọ, giập thoát não. Các thương tích trên cơ thể nạn nhân do bị vật có trọng lượng lớn đè ép trực tiếp gây nên.
Tại bản kết luận số 5614/C54(P4) ngày 26/11/2017 và bản kết luận giám định số 5415/C54(P3) ngày 29/11/2017 của Viện khoa học hình sự - Bộ công an kết luận: Dấu vết trượt xước, mất sơn màu vàng ở mặt ngoài bên phải chắn đà trước xe ô tô biển số 29H – 06031 có chiều từ trước về sau, phù hợp với dấu vết trượt xước, dính chất màu vàng (dạng sơn) ở mặt ngoài cánh yếm bên trái xe mô tô biển số 30X3 – 5400, dấu vết va chạm ở xe mô tô tại vị trí này có chiều hướng từ sau về trước.
Vật chứng thu giữ: 01 xe ô tô biển số 29H – 06031, ngày 08/11/2017 Cơ quan điều tra Công an huyện Đ đã trả cho anh Nguyễn Văn L; 01 xe mô tô biển số 30X3 – 5400, ngày 15/11/2017 Cơ quan điều tra Công an huyện Đ đã trả cho anh Nguyễn Bá Đ1.
Bản Cáo trạng số 39/CT-VKS - ĐP ngày 22 tháng 5 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 của Bộ luật hình sự năm năm 1999.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội như sau: Do Nguyễn Văn T điều khiển xe ô tô vượt khi anh Đ điều khiển xe mô tô phía trước chưa tránh về bên phải làm anh Đ ngã xuống đường, bánh sau bên phải xe ô tô của T chèn qua người làm anh Đ tử vong. Sau khi anh Đ chết bị cáo đã tự nguyện hỗ trợ thiệt hại cho người đại diện của bị hại anh Đ tổng số tiền là 100.000.000 đồng. Bố bị cáo là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân chương, bị cáo có thời gian cống hiến trong quân đội. Nay bị cáo ân hận về hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh bị cáo giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
- 3 -
Về dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại anh Nguyễn Bá Đ1 trình bày việc Nguyễn Văn T gây tai nạn cho anh Nguyễn Bá Đ làm anh Đ bị chết, sau khi tai nạn, biết anh Đ chết bị cáo đã hỗ trợ bồi thường với số tiền là 100.000.000 đồng. Nay anh không đề nghị gì về phần dân sự. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
Nguyên đơn dân sự: ông Ngô Xuân Ngừng đại diện cho Công ty cổ phần Nam Thăng Long P vắng mặt tại phiên tòa, quá trình điều tra ông không yêu cầu Nguyễn Văn T phải bồi thường trách nhiệm về dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ giữ quyền công tố tại phiên tòa trình bày luận tội giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 202 của Bộ luật hình sự năm 1999; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt Nguyễn Văn T từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 đến 30 tháng. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho đại diện của bị hại, tại phiên tòa đại diện bị hại cũng như nguyên đơn dân sự không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét. Về vật chứng vụ án: 01 xe ô tô biển số 29H – 06031, ngày 08/11/2017 Cơ quan điều tra Công an huyện Đ đã trả cho Công ty cổ phần Nam Thăng Long P; 01 xe mô tô biển số 30X3 – 5400, ngày 15/11/2017 Cơ quan điều tra Công an huyện Đ đã trả cho anh Nguyễn Bá Đ1 nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Vụ án xảy ra trên địa bản huyện Đ, Thành phố Hà Nội nên việc khởi tố, truy tố và xét xử được các cơ quan tiến hành tố tụng huyện Đ, Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục ban hành, nội dung các quyết định tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận hành vi của mình phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố. Lời khai của bị cáo cũng được chứng minh bằng lời khai của người làm chứng, bằng kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện giao thông, bản giám định pháp y, bản kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 19 giờ ngày 04/10/2017 tại đường đê quai thuộc xã L, huyện Đ, Thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn T có giấy phép lái xe điều khiển xe ô tô biển số 29H – 06031 chở gạch từ nhà máy gạch Anpha
- 4 -
thuộc xã H đi theo đường đê sông Hồng đến quận Hoàng Mai, khi đến đoạn đường đê quai thuộc xã Liên Hà thì thấy anh Nguyễn Bá Đ điều khiển xe mô tô đi cùng chiều, đi ở giữa đường, T điều khiển xe ô tô sang trái đường và vượt xe mô tô của anh Nguyễn Bá Đ điều khiển đi phía trước cùng chiều ở giữa đường, dẫn đến đầu xe ô tô bên phải của T đã va chạm với phần cánh yếm bên trái xe mô tô của anh Đ làm xe mô tô bị đổ và anh Đ ngã xuống đường, bánh sau bên phải xe mô tô của T chèn qua người và anh Đ chết tại chỗ. Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn T vi phạm khoản 2 Điều 14 Luật giao thông đường bộ “Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải”.
Xét về nguyên nhân gây nên vụ tai nạn giao thông do lỗi một phần của anh Nguyễn Bá Đ điều khiển xe mô tô phía trước khi T xin vượt anh Đ không đi về bên phải của phần đường xe chạy cho xe sau vượt qua. Anh Đ vi phạm khoản 3 Điều 14 Luật giao thông đường bộ “Khi có xe xin vượt, nếu đủ điều kiện an toàn, người điều khiển phương tiện phía trước phải giảm tốc độ, đi sát về bên phải của phần đường xe chạy cho đến khi xe sau đã vượt qua, không được gây trở ngại đối với xe xin vượt”.
Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” được quy định tại khoản 1 Điều 202 của Bộ luật hình sự năm 1999. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo theo tội danh và viện dẫn điều luật là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.
. Xét về tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác, gây đau thương, tổn thất đến tinh thần của gia đình bị hại nên cần có mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xét thấy bị hại cũng có một phần lỗi không đi về bên phải phần đường xe chạy cho xe sau vượt qua; bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng; quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã khắc phục bồi thường cho đại diện bị hại và đại diện bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo, bố bị cáo có công với cách mạng được tặng thưởng huân chương, bị cáo có thời gian cống hiến trong quân đội, tuổi bị cáo đã cao, đây cũng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để từ đó Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân tốt, đồng thời cũng là bài học để phòng ngừa tội phạm nói chung.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường phần tiền chi phí mai táng, tổn thất tinh thần và tiền cấp dưỡng nuôi con cho người đại diện hợp pháp bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại không đề nghị bị cáo bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử
- 5 -
không xem xét. Nguyên đơn dân sự không yêu cầu T bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về xử lý vật chứng vụ án: 01 xe ô tô biển số 29H – 06031, ngày 08/11/2017 Cơ quan điều tra Công an huyện Đ đã trả cho Công ty cổ phần Nam Thăng Long P; 01 xe mô tô biển số 30X3 – 5400, ngày 15/11/2017 Cơ quan điều tra Công an huyện Đ đã trả cho anh Nguyễn Bá Đ1 nên không xem xét.
. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển, phương tiện giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Uỷ ban nhân dân xã Văn Nhân, huyện P, Thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
2. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo về phần bồi thường thiệt hại trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- 6 -
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hà Nội; - CA, VKSND huyện Đ; - CCTHADS huyện Đ; - Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại; Nguyên đơn dân sự - Lưu hồ sơ vụ án. - 7 - | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Tuyết |