vanban.org

Bản án 37/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 29/03/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/03/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dông: Kho¶n 2 ĐiÒu 104; ®iÓm b, p kho¶n 1, khoản 2 ĐiÒu 46; ĐiÒu 33 Bé luËt h×nh sù. Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; căn cứ hướng dẫn tại Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội. Xử ph¹t: Bị cáo Nguyễn Văn H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tï về tội “Cố ý gây thương tích”. Thờ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hì…"
  • Tòa quyết gì? [1] Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2018/HS-PT
Ngày: 29-03-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bạch Đăng Thi

Các thẩm phán: Ông Ngô Quang Dũng

Bà Nguyễn Thị Kim Dung

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Linh Chi - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng Tùng-Kiểm sát viên.

Ngày 29/3/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 24/2018/HSPT ngày 11/01/2018 đối với bị cáo Nguyễn Văn H do có kháng cáo của bị cáo H đối với bản án hình sự sơ thẩm số 177/2017/HSST ngày 08/12/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh năm 1996; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Số nhà 2, ngách 3, ngõ 31, tổ 4, phường M, thành phố B, tỉnh BG; Nghề nghiệp: Không; Văn hoá: 9/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị Y; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/02/2017 đến ngày 21/7/2017 được thay thế bằng biện pháp cho bảo lĩnh, hiện tại ngoại (có mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 09/02/2017, Nguyễn Văn H, sinh năm 1996; trú tại: Tổ 4, phường M cùng với ba người bạn gồm: Nguyễn Đăng H1, sinh năm 1990; Nguyễn Thành D, sinh ngày 22/12/2000; Hoàng Đức H2, sinh ngày 01/12/2000 đến quán đồ nướng Đức Hải ở thôn B, xã T, thành phố BG để ăn đêm. Bàn ăn nhóm của H được kê ở vỉa hè trước quán đồ nướng Đức Hải. Lúc này ở bàn bên cạnh có các anh Hoàng Hữu N, sinh năm 1993, Hoàng Văn T, sinh năm 1994 đều trú tại thôn TP, xã T; anh Thân Thanh T2, sinh năm 1992; Vi Văn B, sinh năm 1995; Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1994 đang ngồi ăn uống từ trước. Trong lúc uống rượu, anh Hoàng A, anh B, anh T2 có sang bàn của H mời rượu.

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 10/02/2017, do có mâu thuẫn cá nhân từ trước nên H và anh N nhìn nhau thách thức, lời qua tiếng lại chửi nhau dẫn đến xô xát với nhau. H cầm chiếc đũa tre xông đến đâm về phía anh N nhưng không trúng, anh N cũng cầm ghế nhựa (loại ghế thấp) tại quán ăn đánh lại H. Thấy vậy, mọi người can ngăn tách H và anh N ra. Hai bên tiếp tục to tiếng chửi nhau. Do vẫn bực tức nên H chạy vào trong bếp của quán đồ nướng Đức Hải để tìm dao, anh N vẫn cầm ghế nhựa ném H nhưng lại trúng về phía bàn của nhóm H, H1 và D đang ngồi, Hcó đứng dậy hô “đánh chết mẹ nó đi tội đâu tao chịu!”. H1 và D đứng dậy mỗi người cầm một chiếc ghế nhựa xông vào đánh anh N, anh N cũng cầm ghế nhựa đánh lại, hai bên xô xát du đẩy nhau. Lúc này H chạy từ trong bếp ra trên tay phải cầm một con dao (loại dao chọc tiết lợn) thì có người can ngăn. H quay vào trong bếp lấy tiếp một con dao (dạng dao bài) chạy ra ngoài thì gặp anh Hoàng Văn T giơ tay ra ngăn cản. Trong khi H lao qua người anh T thì lưỡi dao H đang cầm cứa vào lòng bàn tay phải anh T làm chảy máu. H cầm dao đi đến chém thẳng phía anh N nhưng anh N lùi lại nên không trúng. Anh N cầm chiếc ghế nhựa đập vào người H thì H giơ tay trái đang cầm con dao (loại dao chọc tiết lợn) lên đỡ đồng thời H giơ tay phải đang cầm con dao (loại dao bài) chém một nhát trúng sườn bên trái anh N. Anh N dùng tay trái đẩy về phía H để quay người bỏ chạy thì bị phần mũi dao cứa vào lòng bàn tay trái. Khi anh N bỏ chạy thì H đuổi theo chém một nhát trúng vào bàn tay trái và một nhát vào lưng của anh N. Anh N tiếp tục bỏ chạy được một đoạn ra đến đường thì bị vấp ngã. Thấy vậy H không đuổi đánh anh N nữa mà quay lại quán Đức Hải. H1 và D chạy theo sau, khi thấy anh N ngã ra đường thì D dùng chân đá vào mặt anh N, H1 dùng chân đá một nhát vào người anh N nhưng không gây thương tích gì. Ngay sau đó H1 và D quay lại quán đồ nướng Đức Hải cùng H đi về. Anh N được anh Hoàng A và anh B đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang.

Ngày 10/02/2017, ông Hoàng Hữu T3 là bố đẻ anh Hoàng Hữu N có đơn trình báo Công an thành phố Bắc Giang. Cơ quan điều tra đã khám nghiệm hiện trường, thu giữ 01 con dao dài 38,5cm, có cán bằng gỗ tròn dài 12,5cm, lưỡi dao dài 26cm, có một lưỡi sắc, không có đầu nhọn, chỗ rộng nhất là 07cm, trên lưỡi dao có bám dính máu khô.

Ngày 16/02/2017, Nguyễn Văn H đến Công an thành phố Bắc Giang đầu thú. Cơ quan điều tra đã cho Nguyễn Văn H nhận dạng con dao (dạng dao bài) dùng đánh anh N, kết quả H nhận dạng đúng con dao đã được cơ quan điều tra thu giữ là con dao dùng chém anh N. Đối với con dao loại dao chọc tiết lợn, Cơ quan điều tra đã rà soát, truy tìm nhưng không thu giữ được.

Ngày 07/7/2017, Cơ quan điều tra đã cho thực nghiệm điều tra vụ án. Kết quả Nguyễn Văn H đã thực hiện lại các hành vi như đã khai tại Cơ quan điều tra.

Anh Hoàng Hữu N được cấp cứu điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang từ ngày 10/02/2017 đến ngày 16/02/2017 thì ra viện. Tại giấy chứng nhận thương tích ngày 10/02/2017 và ngày 22/3/2017, Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang xác nhận tình trạng của anh Hoàng Hữu N khi vào viện như sau: Bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc được, da niêm mạc hồng nhạt; vết thương vùng lưng trái kích thước 15cm, đứt bán phần cơ lưng rộng; vết thương vỡ hở xương cánh chậu trái, đứt cơ thắt lưng chậu, cơ mông lớn; vết thương phức tạp bàn tay: Đứt khối cơ ô mô cái, ô mô út và gân gấp nông sâu ngón V vùng II; vết thương lóc da bàn tay trái, kích thước 15cm.

Tại bản kết luận giám định pháp y số 7623/17/TgT ngày 16/02/2017, Trung tâm Pháp y tỉnh Bắc Giang kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của anh Hoàng Hữu N là 25%.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích bổ sung số 7710/17/TgT ngày 13/4/2017, Trung tâm Pháp y tỉnh Bắc Giang kết luận bổ sung về thương tích của anh Hoàng Hữu N như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định: Thương tích vết thương vùng lưng trái: 02%. Thương tích vết thương mạn sườn trái + Vết mổ dẫn lưu + X-Quang : Hình ảnh vỡ xương cánh chậu trái đã kết hợp xương bằng xuyên kim, hiện có vị trí giải phẫu bình thường: 19%. Thương tích vết thương vùng ô mô ngón 1 - mặt trước cổ tay trái - mặt trong mu bàn tay trái và vết sẹo lòng bàn tay trái + khám thần kinh vận động: hạn chế vận động ngón tay số V bàn tay trái gấp duỗi mức độ nhiều. Hạn chế cử động bàn tay trái mức độ ít: 09 %. Kết luận: Căn cứ Bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo Thông tư số : 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014 của Bộ Y tế, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 28%. Cơ chế gây thương tích: Các thương tích do vật sắc gây nên.

Ngày 10/02/2017 anh Hoàng Văn T có trình báo đối với hành vi của Nguyễn Văn H. Tại giấy chứng nhận thương tích ngày 22/3/2017, Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang xác nhận tình trạng thương tích của anh T khi vào viện như sau: 01 vết thương ô mô cái tay phải, kích thước 05cm, chảy máu, gấp duỗi các ngón tốt. Xquang không thấy tổn thương xương.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 7709/TgT ngày 13/4/2017, Trung tâm Pháp y tỉnh Bắc Giang kết luận anh T tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 03%, cơ chế gây thương tích là do vật sắc gây nên.

Đến ngày 28/6/2017, anh T có đơn xin rút yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn H và không đề nghị bồi thường gì khác.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 08/6/2017 bố đẻ của bị cáo H là ông Nguyễn Văn N đã bồi thường tổng số tiền 40.000.000 đồng cho anh Hoàng Hữu N. Đến nay, anh N không có yêu cầu đề nghị gì về bồi thường dân sự.

Vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra thu giữ 01 con dao dài 38,5cm, có cán bằng gỗ tròn dài 12,5cm, lưỡi dao dài 26cm, có một lưỡi sắc, không có đầu nhọn, chỗ rộng nhất là 07cm, trên lưỡi dao có bám dính máu khô. Kết quả nhận dạng H thừa nhận đúng là con dao đã dùng chém anh N. Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng để giải quyết theo quy định.

Đối với Nguyễn Đăng H1 là người có hành vi hô hào Hoàng Đức H2, Nguyễn Thành D đánh anh N, đối với Hoàng Đức H2, Nguyễn Thành D là người có hành vi dùng ghế nhựa đánh, dùng chân đá anh N nhưng không gây thương tích. Tuy nhiên, khi H thực hiện hành vi dùng dao chém anh N, H không hô hào, kêu gọi H1, D cùng đánh anh N. Ngày 12/7/2017, Trưởng Công an thành phố Bắc Giang đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với H1, Huy và D về hành vi đánh nhau. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang xác định hành vi của H, H1, D không phải là đồng phạm với Nguyễn Văn H.

Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 177/2017/HSST ngày 08/12/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã xét xử và quyết định:

Tuyªn bè bÞ c¸o Nguyễn Văn H ph¹m téi “Cè ý g©y thư¬ng tÝch”.

Áp dông: Kho¶n 2 ĐiÒu 104; ®iÓm b, p kho¶n 1, khoản 2 ĐiÒu 46; ĐiÒu 33 Bé luËt h×nh sù. Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; căn cứ hướng dẫn tại Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội.

Xử ph¹t: Bị cáo Nguyễn Văn H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tï, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Bị cáo được trừ đi 05 (năm) tháng 05 (năm) ngày đã bị tạm bị tạm giữ, tạm giam trước đó (từ ngày 16/02/2017 đến ngày 21/7/2017). Bị cáo còn phải chấp hành hình phạt tù là 02 (hai) năm 25 (hai mươi lăm) ngày.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi cấp sơ thẩm xét xử xong, ngày 18/12/2017 bị cáo Nguyễn Văn H có đơn kháng cáo với nội dung kháng cáo phần hình phạt chính của bản án với bị cáo và xin cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo với lý do hình phạt nặng so với hành vi phạm tội của bị cáo; bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo; bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình; gia đình có hoàn cảnh khó khăn; bị cáo từng tham gia quân ngũ, bị cáo xuất trình 01 đơn đề nghị xin miễn giảm hình phạt của người bị hại anh Hoàng Hữu N, có nộp 200.000 đồng (do bố bị cáo nộp thay) tại biên lai thu tiền số AA/2012/00469 ngày 08/3/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đưa ra đề nghị xem xét các vấn đề kháng cáo của bị cáo đã kết luận và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, Điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H. Sửa bản án sơ thẩm. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 năm 06 tháng tù. Án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo Nguyễn Văn H không tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, của những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H đã nộp theo đúng các quy định của pháp luật nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp cần được chấp nhận để xem xét.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo thấy: Do mâu thuẫn cá nhân từ trước nên Nguyễn Văn H đã có hành vi dùng hai con dao (một con dao loại dao chọc tiết lợn, một con dao loại dao bài) chém nhiều nhát gây thương tích vào bàn tay trái, vào lưng và vào sườn bên trái của anh N làm anh N bị thương tích 28%. Mặc dù tỷ lệ thương tích các vết thương bị cáo gây ra cho người bị hại với tỷ lệ 28%, nhưng chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt xảy ra từ trước, bị cáo đã được mọi người can ngăn nhưng bị cáo vẫn cố ý chạy vào bếp lấy dao ra chém gây thương tích cho người bị hại. Hành vi của bị cáo là côn đồ, xem thường sức khoẻ của người khác. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Cè ý g©y thư¬ng tÝch” theo kho¶n 2 ĐiÒu 104 Bé luËt h×nh sù năm 1999 với hai tình tiết định khung tăng nặng (thuộc trường hợp dùng hung khi nguy hiểm và có tích chất côn đồ) theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự. Án sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội danh và điều luật như trên là cã c¨n cø, ®óng ngưêi, ®óng téi.

Bị cáo Nguyễn Văn H có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự gì. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Trong quá trình bị tạm giữ, tạm giam bị cáo đã tích cực tác động để gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả theo thỏa thuận cho người bị hại, đến nay người bị hại không còn thắc mắc, yêu cầu gì và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Bị cáo có thời gian phục phục vụ trong quân đội đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về địa phương nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.

Bản án sơ thẩm sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi của bị cáo, đánh giá toàn bộ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đã xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 năm 06 tháng tù là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo có xuất trình thêm 01 đơn đề nghị xin miễn giảm hình phạt của người bị hại anh Hoàng Hữu N, có nộp 200.000 đồng (do bố bị cáo nộp thay) tại biên lai thu tiền số AA/2012/00469 ngày 08/3/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Tình tiết người bị hại anh Hoàng Hữu N xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thì từ cấp sơ thẩm bị hại cũng đã xin cho bị cáo và được tòa án cấp sơ thẩm áp dụng khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 cho bị cáo nên không có căn cứ áp dụng thêm cho bị cáo. Việc nộp 200.000 đồng (do bố bị cáo nộp thay) tại biên lai thu tiền số AA/2012/00469 ngày 08/3/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, đây không được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà chỉ xác định thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo. Bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo là đúng quy định của pháp luật.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội:

Do bị cáo Nguyễn Văn H không được chấp nhận kháng cáo nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

[1] Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dông: Kho¶n 2 ĐiÒu 104; ®iÓm b, p kho¶n 1, khoản 2 ĐiÒu 46; ĐiÒu 33 Bé luËt h×nh sù. Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; căn cứ hướng dẫn tại Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội.

Xử ph¹t: Bị cáo Nguyễn Văn H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tï về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Bị cáo được trừ đi 05 (năm) tháng 05 (năm) ngày đã bị tạm bị tạm giữ, tạm giam trước đó (từ ngày 16/02/2017 đến ngày 21/7/2017). Bị cáo còn phải chấp hành hình phạt tù là 02 (hai) năm 25 (hai mươi lăm) ngày.

Xác nhận bị cáo Nguyễn Văn H có nộp 200.000 đồng (do bố bị cáo nộp thay) tại biên lai thu tiền số AA/2012/00469 ngày 08/3/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

[2] Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội:

Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Án xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ