vanban.org

Bản án 37/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ngô Thị Q - Lê Thành P"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 37/2018/HNGĐ-ST
Ngày 12.9.2018
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Văn Sỹ

2. Bà Nguyễn Thị Thanh Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngô Khánh Loan - Thư ký Tòa án nhân dân

quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Ái Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu

xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 192/2018/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2018/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Q - Sinh năm 1994; nơi cư trú: K326/21 H,

phường H, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, (Có mặt).

- Bị đơn: Ông Lê Thành P - Sinh năm 1985; nơi cư trú: 12 N, phường H,

quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, (Vắng mặt, không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại Đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 14 tháng 5 năm 2018, Bản tự

khai ngày 19 tháng 6 năm 2018, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn - bà Ngô Thị Q trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Lê Thành P tự nguyện kết hôn vào năm

2013; có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

Sau khi kết hôn, bà và ông P chung sống 12 Nguyễn Văn Cừ, phường Hòa

Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng - là nhà của cha mẹ ông P.

Trong quá trình chung sống, giữa bà và ông P đã phát sinh nhiều mâu

thuẫn ngay sau khi kết hôn, trầm trọng nhất là từ năm 2016. Nguyên nhân là do ông P ham chơi cờ bạc, ma túy. Năm 2016, bà đã gửi đơn xin ly hôn đến Tòa án và đã được Tòa án hòa giải nên bà đã rút đơn về. Tuy nhiên, từ đó, bà và ông P chưa một lần gặp nhau để nói chuyện và ly thân cho đến nay.

Nay, bà xác định không còn tình cảm với ông P, mâu thuẫn giữa vợ chồng

đã trầm trọng, không hàn gắn được nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn.

- Về con chung: Bà xác định bà và ông P không có con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà xác định bà và ông P không có tài sản

chung, không nợ của ai và không có ai nợ của ông bà.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn - ông Lê Thành P không có văn

bản trình bày ý kiến gửi Tòa án, không đến Tòa án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tại phiên tòa, ông P vắng mặt lần hai, không có lý do.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu phát

biểu: Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định tại Điều 48; đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các nguyên tắc xét xử, đảm bảo các bên đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ, việc hỏi và tranh tụng tại phiên tòa được tiến hành khách quan, đúng trình tự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70, 71 và 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, đối với bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng vắng mặt không có lý do, thể hiện thái độ không tôn trọng pháp luật, phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt. Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Q, xử cho bà Q được ly hôn với ông P. Bà Q và ông P không có con chung, không có tài sản chung và không có nợ chung nên không đề cập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu đã triệu tập hợp lệ bị

đơn là ông Lê Thành P; nhưng tại phiên tòa ông P vẫn vắng mặt lần hai, không có lý do. Áp dụng khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông P.

Về nội dung: Bà Ngô Thị Q và ông Lê Thành P đăng ký kết hôn vào

năm 2013 tại Ủy ban nhân dân phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Do vậy, hôn nhân giữa bà Q và ông P là hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Q đối với ông P, Hội đồng xét xử thấy:

Quá trình giải quyết vụ án, ông P không có văn bản phản đối yêu cầu khởi

kiện của bà Q. Căn cứ Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định: Trong quá trình chung sống, giữa bà Q và ông P đã phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng từ năm 2016. Nguyên nhân là do ông P ham chơi cờ bạc, ma túy. Việc ông P không đến Tòa án để trình bày ý kiến và tham gia tố tụng đã thể hiện ông P không có mong muốn đoàn tụ, bỏ mặc cho mâu thuẫn gia đình ngày càng trầm trọng.

Xét thấy, hôn nhân giữa bà Q và ông P đã lâm vào tình trạng trầm trọng,

đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân không còn tồn tại trên thực tế. Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Q đối với ông P, xử cho bà Q được ly hôn với ông P.

Về con chung: Bà Q xác định bà và ông P không có nên không đề cập giải

quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Q xác định bà và ông P không có tài sản

chung, không nợ của ai và không có ai nợ của ông bà nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

¸n phÝ h«n nh©n vµ gia ®×nh s¬ thÈm là 300.000đ (Ba trăm ngàn

đồng) bà Ngô Thị Q phải chÞu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYÕT §ÞNH

Áp dụng các điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 2 Điều 227, khoản 4 Điều 147, các điều 235 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

1. Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Ngô Thị Q đối với ông Lê Thành P về

việc “Tranh chấp ly hôn”.

* Về quan hệ hôn nhân:

Xử: Cho bà Q được ly hôn với ông P.

* Về con chung: Bà Q xác định bà và ông P không có.

* Về tài sản chung và nợ chung: Bà Q xác định bà và ông P không có tài

sản chung, không nợ của ai và không có ai nợ của ông bà.

2. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn

đồng) bà Ngô Thị Q phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn ngàn đồng) đã nộp tại biên lai thu số 0002899 ngày 21 tháng 5 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự quận Liên Chiểu. Bà Q đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày,

kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Tr êng hîp b¶n ¸n ® îc thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 2 LuËt Thi hµnh

¸n d©n sù th× ng êi ® îc thi hµnh ¸n d©n sù, ng êi ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù cã quyÒn tháa thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc bÞ c ìng chÕ thi hµnh ¸n theo quy ®Þnh t¹i c¸c ĐiÒu 6, 7 vµ 9 LuËt Thi hµnh ¸n d©n sù; thêi hiÖu thi hµnh ¸n ® îc thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 30 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù.

Cỡ chữ