vanban.org

Bản án 37/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Diễm N-Nguyễn Huỳnh N1"
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KẾ SÁCH
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2018/HNGĐ-ST.
Ngày: 26/06/2018.
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Phụng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Thiều Hoàng Mới.

2. Ông Huỳnh Khởi.

- Thƣ ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hạnh– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Lâm Thanh Dũng– Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 100/2018/TLST-HNGĐ, ngày 19/03/2018 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2018/QĐXXST-HNGĐ, ngày 24 tháng 05 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2018/QĐST-HNGĐ, ngày 14/6/2018, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Diễm N, Địa chỉ: ấp P1, xã P, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

* Bị đơn: Ông Nguyễn Huỳnh N1, Địa chỉ: ấp P2, xã P, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 19/03/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Diễm N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Huỳnh N1 cưới nhau theo phong tục tập quán tại địa phương năm 2009 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã P ngày 16/6/2014. Lúc đầu sống rất hạnh phúc, đến năm 2015 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do ông N1 tính ghen tuông, vợ chồng bất hòa nhau, có cải vả qua lại, ông N1 không lo lắng cho vợ con và kể từ 15/2/2018 đến nay ông bà sống ly thân và không chung sống như vợ chồng cho đến nay. Sau khi ly thân thì gia đình hai bên có bàn bạc nhưng không đạt kết quả, còn bà và ông N1 không có gặp nhau để bàn bạc. Hiện nay bà N không còn thương ông N1. Nay bà N yêu cầu được ly hôn với ông N1.

- Về con chung: Trong thời gian sống chung, ông bà có 01 con chung là cháu Nguyễn Minh T, sinh ngày 11/12/2014, hiện nay cháu T đang sống chung với bà N; Nếu ly hôn bà N yêu cầu được nuôi cháu T và yêu cầu ông N1 cấp dưỡng nuôi cháu T hàng tháng là 1.000.000 đồng đến khi cháu T đến tuổi thành niên.

- Về tài sản chung và nợ chung: không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại biên bản lấy khai và biên bản hòa giải cùng ngày 19/4/2018, bị đơn ông Nguyễn Huỳnh N1 trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị Diễm N cưới nhau theo phong tục tập quán tại địa phương năm 2009 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã P ngày 16/6/2014. Lúc đầu sống rất hạnh phúc, đến ngày 13/02/2018 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất hòa nhau, có cải vả qua lại về các lĩnh vực trong đời sống và kể từ 15/02/2018 đến nay ông bà sống ly thân và không chung sống như vợ chồng cho đến nay. Sau khi ly thân thì gia đình hai bên có bàn bạc nhưng không đạt kết quả, còn ông và bà N không có gặp nhau để bàn bạc. Ông còn thương bà N, bà N có còn thương ông hay không thì ông không biết. Nay bà N yêu cầu ly hôn với ông thì ông không đồng ý, vì còn thương vợ con.

- Về con chung: Trong thời gian sống chung, ông bà có 01 con chung là cháu Nguyễn Minh T, sinh ngày 11/12/2014, hiện nay cháu T đang sống chung với bà N; Nếu ly hôn thì ông N1 đồng ý giao cháu T cho bà N nuôi dưỡng đến tuổi thành niên và ông cấp dưỡng nuôi cháu T hàng tháng là 1.000.000 đồng đến khi cháu T thành niên.

- Về tài sản chung và nợ chung: không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách tham gia phiên tòa sơ thẩm có ý kiến phát biểu nhận xét về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án nhìn chung đều thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Riêng bị đơn vắng mặt không lý do; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn và áp dụng các Điều 81 khoản và 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình giao con chung cho bà Nguyễn Thị Diễm N trực tiếp nuôi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Huỳnh N1 là bị đơn trong vụ án không có yêu cầu phản tố đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Huỳnh N1.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Diễm N và ông Nguyễn Huỳnh N1 tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán tại địa phương năm 2009, không ai ép buộc và ông bà có đăng ký kết hôn đảm bảo đúng theo quy định tại các Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân gia đình, nên quan hệ hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống do ông N1 có tính ghen tuông, vợ chồng bất hòa nhau, ông N1 không lo lắng cho vợ con, nên ông bà thường xuyên cải vả qua lại và kể từ ngày 15/02/2018 ông bà đã sống ly thân cho đến nay. Sau khi ly thân gia đình hai bên có gặp nhau để bàn bạc nhưng không đạt kết quả, ông bà không có gặp nhau bàn bạc cũng như sau khi Tòa án đã thụ lý có mời hai bên đến hòa giải nhiều lần và có thời gian để hai ông bà tìm biện pháp để ông bà hàn gắn lại, nhưng đến thời điểm này cả hai người cũng không có một biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tại tòa hôm nay, bà N kiên quyết ly hôn với ông N1 và tại biên bản lấy khai và biên bản hòa giải cùng ngày 19/4/2018 phía ông N1 không đồng ý ly hôn với bà N vì còn thương vợ con và cũng không có biện pháp để vợ chồng đoàn tụ với nhau. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà thực sự là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho bà Nguyễn Thị Diễm N được ly hôn với ông Nguyễn Huỳnh N1.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Diễm N và ông Nguyễn Huỳnh N1 thừa nhận ông bà sống chung có 01 người con chung là Cháu Nguyễn Minh T sinh ngày 11/12/2014. Tại tòa, bà N và tại biên bản hòa giải ngày 19/4/2018 ông N1 đều thống nhất nếu ông bà ly hôn thì ông N1 đồng ý giao cháu T cho bà N nuôi dưỡng và ông N1 đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu T hàng tháng là 1.000.000 đồng đến tuổi thành niên. Xét thấy, Tại biên bản lấy lời khai và biên bản hòa giải cùng ngày 19/4/2018 thì ông N1 đồng ý giao cháu T cho bà N nuôi dưỡng và tại tòa bà N đồng ý nuôi cháu T đến tuổi thành niên là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử cần ghi nhận sự thỏa thuận của bà N và ông N1, nên cần thiết giao cháu Nguyễn Minh T cho bà N nuôi dưỡng là phù hợp với pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà N yêu cầu ông N1 cấp dưỡng cho cháu T và tại biên bản lấy khai, biên bản hòa giải cùng ngày 19/4/2018 phía ông N1 đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu T hàng tháng là 1.000.000 đồng đến khi cháu T đến tuổi thành niên. Xét thấy, tại biên bản lấy khai và biên bản hòa giải cùng ngày 19/4/2018 thì ông N1 đồng ý cấp dưỡng cho cháu T hàng tháng là 1.000.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử cần ghi nhận sự tự nguyện của ông N1 về việc cấp dưỡng cho cháu T hàng tháng là 1.000.000 đồng là phù hợp theo khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân gia đình.

Dành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho ông N1 không ai được quyền ngăn cản theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bà Nguyễn Thị Diễm N chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng và ông Nguyễn Huỳnh N1 chịu án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn và áp dụng các Điều 81 và 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình giao con chung cho bà Nguyễn Thị Diễm N trực tiếp nuôi là có căn cứ như nhận định trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 1 và khoản 2 Điều 81, khoản 2 và khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình.

* Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị Diễm N được ly hôn với ông Nguyễn Huỳnh N1.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh T sinh ngày 11/12/2014 cho bà Nguyễn Thị Diễm N trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên;

Ghi nhận việc ông Nguyễn Huỳnh N1 đồng ý cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Minh T sinh ngày 11/12/2014 hàng tháng là 1.000.000 đồng cho cháu T đến tuổi thành niên. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu tháng 6 năm 2018.

Dành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho ông N không ai được quyền ngăn cản.

3. Về tài sản chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Nguyễn Thị Diễm N chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001076, ngày 19/03/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

- Ông Nguyễn Huỳnh N1 chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng ông Nguyễn Huỳnh N1 vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ