- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Thị D - Trương Văn L"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của anh Trương Văn L.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| Bản án số: 37/2018/HNGĐ-PT Ngày: 06 - 09 - 2018 V/v Xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Minh Tấn
Các Thẩm phán:
Ông Huỳnh Văn Út
Ông Huỳnh Văn Yên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Bằng là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 09 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 36/2018/TLPT/HNGĐ ngày 20 tháng 07 năm 2018 về việc “Xin ly hôn”.
Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 40/2018/HNGĐ-ST ngày 12/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 197/2018/QĐ-PT ngày 08 tháng 8 năm 2018, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị D, sinh năm 1999
Tạm trú: Ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Cà Mau(Có mặt)
Bị đơn: Anh Trương Văn L, sinh năm 1992
Tạm trú: Ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Cà Mau(Có mặt)
- Người kháng cáo: Bị đơn Anh Trương Văn L
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Chị Huỳnh Thị D và anh Trương Văn L chung sống với nhau từ năm 2016, đến ngày 10/04/2017 mới đăng ký kết hôn, trong cuộc sống xảy ra mâu thuẩn bất hòa, hiện nay anh chị đã ly thân với nhau, tình cảm không hàn gắn được nên chị D yêu cầu xin ly hôn với anh L, được anh L đồng ý.
Về con: Anh, chị có một người con tên Trương Thảo V, sinh ngày 26/10/2016, chị D đang trực tiếp nuôi dưỡng, khi ly hôn chị D yêu cầu được trực tiếp nuôi con và yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Anh L không đồng ý giao con cho chị D nuôi và yêu cầu nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Anh, chị có 10 chỉ vàng 24k và 8,5 chỉ vàng 18k, chị D đang quản lý. Chị D cho rằng đã chi hết vào việc nuôi con, còn anh L yêu cầu chia tài sản chung.
Tại bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 40/2018/HNGĐ-ST ngày 12/06/2018 của Tòa án nhân dân huyện H đã Quyết định: Chấp nhận yêu cầu của chị D được ly hôn với anh L, chị D được trực tiếp nuôi con, anh L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng. Tài sản chung anh chị được chia mỗi người ½, chị D có nghĩa vụ hoàn lại cho anh L ½ tài sản.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm thi hành, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 25/6/2018, anh Trương Văn L có đơn kháng cáo với nội dung: Anh không đồng ý cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên tòa, anh L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử là đúng pháp Luật tố tụng dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh Trương Văn L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Tại Khoản 2 điều 82 luật hôn nhân và gia đình quy định “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Theo quy định của điều luật trên thì: Khi chị Huỳnh Thị D và anh Trương Văn L đã được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận cho anh, chị được ly hôn với nhau, đồng thời giao cho chị D trực tiếp nuôi con tên Trương Thảo V, sinh ngày 26/10/2016. Anh L là người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Mặt khác, tại phiên tòa phúc thẩm, anh L cho rằng hiện tại thu nhập bình quân của anh từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng trên một tháng từ nghề đánh bắt thủy sản. Do đó, bản sơ thẩm buộc anh L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng là có căn cứ.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh Trương Văn L. Giữ nguyên bản án sơ thẩm là có cơ sở chấp nhận.
Về án phí phúc thẩm: Anh Trương Văn L phải chịu theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của anh Trương Văn L.
Giữ nguyên bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 40/2018/HNGĐ-ST ngày 12/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện H.
- Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Huỳnh Thị D được ly hôn với anh Trương Văn L
- Về con chung: Chị Huỳnh Thị D được trực tiếp nuôi con chung là Trương Thảo V, sinh ngày 26/10/2016. Anh Trương Văn L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con tên Trương Thảo V mỗi tháng 1.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi con đủ 18 tuổi. Anh L có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi con của chị D.
Kể từ ngày chị D có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh L không tự nguyện thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu lãi theo mức lãi suất phát sinh tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
- Về tài sản: Chị D và anh L mỗi người được chia 05 chỉ vàng 24k và 4,25 chỉ vàng 18k. Chị D có nghĩa vụ hoàn lại cho anh L 05 chỉ vàng 24k và 4,25 chỉ vàng 18k.
2. Án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm: Anh L phải chịu 300.000 đồng, ngày 25/6/2018 anh L có nộp tạm ứng 300.000 đồng lai thu số 0005281 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H được chuyển thu.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy đinh tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Tòa án nhân dân huyện H; - Chi cục THADS huyện H; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn; - Lưu VT(TM:TANDTCM). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hồ Minh Tấn |