vanban.org

Bản án 37/2017/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Lai Châu Tuyên án 17/08/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Tẩn Mý S(Tẩn Mý X) phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Tẩn Mý S (Tẩn Mý X) 17 (Mười bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 21/03/2017. Vật chứng: Áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 41 Bộ luật hình sự tịch thu tiêu hủy số heroin còn lại sau giám định là 55,72 gam và 01 chiếc túi vải nhiều màu tự làm, có quai đeo đã cũ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tẩn Mý S - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tẩn Mý S(Tẩn Mý X) phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật hình sự tịch thu tiêu hủy
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2017/HSST
Ngày:17/8/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Hoài.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Long;

2. Bà Hoàng Văn Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thu Hồi - Thư ký tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu.

- Đại diệnViện kiểm sát nhân dân tỉnh L tham gia phiên tòa: Bà Vùi Thị Kim Tuyến - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 17 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã P, huyện S, tỉnh L. Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai lưu động vụ án hình sự thụ lý số: 43/2017/HSST ngày 27 tháng 6 năm 2017, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2017/HSST-QĐ ngày 04/8/2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Tẩn Mý S Tên gọi khác Tẩn Mý X; Sinh năm 1994; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi bị bắt bản H, xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu; Dân tộc Dao; Quốc tịch Việt Nam; Tôn giáo không; Trình độ học vấn 5/12; Nghề nghiệp làm ruộng; Tiền án, tiền sự không; Bố Tẩn A X, sinh năm 1971; Mẹ đẻ Tẩn Khé L, sinh năm 1975; Anh chị em ruột: Gia đình bị cáo có 4 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Chồng Tẩn A S sinh năm 1990 và có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2011; Bị cáo bị bắt tạm giữ, t¹m giam từ ngày 21/3/2017 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Nga – Trợ giúp viên, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lai Châu ( Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 06 giờ 10 phút ngày 21/8/2017 tại khu vực bản N, xã M, huyện P tỉnh Lai Châu, tổ công tác Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Lai Châu và phòng cảnh sát điều tra PC47 Công an tỉnh Lai Châu kiểm tra phát hiện, bắt quả tang Tẩn Mý S(Tẩn Mý X) đang mang theo một gói Hêrôin được gói ngoài bằng nilon màu trắng cùng với một số vật chứng khác. Bản kết luận giám định số 138/GĐ-KTHS ngày 26/3/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L kết luận: Vật chứng thu giữ của Tẩn Mý S 01 gói chất bột khô, vón cục, màu trắng có trọng lượng là 56,81gam gửi đến giám định là Heroine.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình theo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo khai nhận: Khoảng 22 giờ ngày 20/3/2017, Tẩn Mý S đang ở nhà thì nhận được điện thoại của một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) hỏi mua Hêrôin. Sun đồng ý bán Hêrôin cho người đàn ông đó, hai bên thỏa thuận giá là 17.000.000 đồng/cây Hêrôin và hẹn địa điểm giao dịch tại khu vực qua chợ xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu vào ngày 21/3/2017. Sau đó, S gọi điện thoại cho người phụ nữ dân tộc Dao tên Tẩn A M ở xã T, huyện S, tỉnh Lai Châu (là người Sun quen từ trước) hỏi có biết ai bán Hêrôin thì giới thiệu cho S M bảo có và cho S số điện thoại của một người đàn ông dân tộc Dao ở xã T, huyện S (không rõ lai lịch, địa chỉ). Sau đó, Sun gọi điện thoại cho người đàn ông do M giới thiệu để hỏi mua Hêrôin. Người đàn ông đồng ý bán Hêrôin cho S với giá 15.000.000 đồng/cây Hêrôin. Cả hai hẹn địa điểm giao dịch tại khu vực suối xã T, huyện S, tỉnh Lai Châu.

Đến khoảng 05 giờ sáng ngày 21/3/2017, S mang theo một chiếc túi vải và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX mang BKS: 25S1 – 01052 của gia đình đi đến khu vực suối xã T, huyện S, tỉnh Lai Châu để mua Hêrôin. Đến điểm hẹn S gặp người đàn ông bán Hêrôin. Tại đây, người đàn ông đưa cho S 01 gói Hêrôin được gói ngoài bằng nilon màu trắng và bảo là 1,7 cây. Hai bên thống nhất sau khi bán được Hêrôin thì S sẽ trả tiền cho người đàn ông. Sau khi nhận Hêrôin, S cất gói Hêrôin vào trong túi vải mang theo treo vào móc hàng để đồ ở đầu xe máy và tiếp tục mang Hêrôin đi đến điểm hẹn để bán cho người đàn ông đặt mua Hêrôin của S. Khi S đi đến khu vực bản N, xã M, huyện P tỉnh Lai Châu thì bị tổ công tác Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Lai Châu và phòng cảnh sát điều tra PC47 Công an tỉnh Lai Châu phát hiện, bắt quả tang thu giữ cùng vật chứng là một gói Hêrôin cùng với một số vật chứng khác.

Tại bản cáo trạng số: 12/KSĐT-MT ngày 26/6/2017 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu đã truy tố Tẩn Mý S(X) về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điểm b Khoản 3 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa đưa ra các tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đề nghị giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố .

Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm b Khoản 3 Điều 194; Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo với mức án từ 15 - 16 năm tù. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 41 Bộ luật hình sự cần tịch thu tiêu hủy số heroin còn lại sau giám định là 52,72 gam và 01 chiếc túi vải nhiều màu tự làm, có quai đeo đã cũ.

01 chiếc xe mô tô hiệu HONDA WAVE RSX màu đen trắng BKS25S1-01052 xác định là tài sản chung, bị cáo phạm tội chồng bị cáo không biết do đó cần trả lại cho chồng bị cáo là Tẩn A S

01 chiếc điện thoại di động SAMSUNG màu trắng, điện thoại đã qua sử dụng cần trả lại cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm b Khoản 3 Điều 194; Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo với mức án thấp nhất của khung hình phạt, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo và xử lý vật chứng trả lại tài sản là xe máy và điện thoại cho bị cáo.

Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

. Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là thống nhất với nhau và phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng tại biên bản bắt người phạm tội quả tang, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu đã truy tố.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 21/3/2017, Tẩn Mý S (X) đã có hành vi vận chuyển trái phép 56,81 gam Hêrôin từ huyện S đến xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu với mục đích để bán cho một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 17.000.000 đồng/cây Hêrôin. Hành vi phạm tội như đã nêu trên của Tẩn Mý S (X) là nguy hiểm cho xã hội, đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 194 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:

1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. ...

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

b, Hêrôin có trọng lượng từ ba mươi gam đến dưới một trăm gam;

.......

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh L đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 194 Bộ luật hình sự là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước được Bộ luật hình sự bảo vệ. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt theo quy định của điều luật đối với bị cáo. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét đến tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau: Về nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: không có. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử cần áp dụng Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

. Về hình phạt bổ sung: Theo Khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.” nhưng do bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản nên Hội đồng xét xử cần miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về vật chứng: Áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 41 Bộ luật hình sự tịch thu tiêu hủy số heroin còn lại sau giám định là 52,72 gam và 01 chiếc túi vải nhiều màu tự làm, có quai đeo đã cũ.

01 chiếc xe mô tô hiệu HONDA WAVE RSX màu đen trắng BKS25S1-01052 xác định là tài sản chung, bị cáo phạm tội chồng bị cáo không biết do đó cần trả lại cho chồng bị cáo là Tẩn A S.

01 chiếc điện thoại di động SAMSUNG màu trắng, điện thoại đã qua sử dụng cần trả lại cho bị cáo.

Về các nội dung liên quan đến vụ án:

Theo lời khai của Tẩn Mý S: Người phụ nữ dân tộc Dao tên Tẩn A M là người cho Sun số điện thoại của người đàn ông bán Hêrôin và người đàn ông bán Hêrôin cho Sun vào ngày 20/3/2017 do Sun không biết rõ lai lịch, địa chỉ của Tẩn A M và người đàn ông bán Hêrôin cho S nên Cơ quan điều tra không xác định được là ai. Vì vậy Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Luật phí và lệ phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Tẩn Mý S(Tẩn Mý X) phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”

2. Áp dụng Điểm b Khoản 3 Điều 194; Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Tẩn Mý S (Tẩn Mý X) 17 (Mười bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 21/03/2017.

3. Vật chứng: Áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 41 Bộ luật hình sự tịch thu tiêu hủy số heroin còn lại sau giám định là 55,72 gam và 01 chiếc túi vải nhiều màu tự làm, có quai đeo đã cũ.

Trả cho Tẩn A S sinh năm 1990 trú tại bản Hoàng H, xã P, huyện S, tỉnh L 01 chiếc xe mô tô hiệu HONDA WAVE RSX màu đen trắng BKS25S1-01052, số khung RLHJC4322BY659752, số máy JC43E-6470146, xe đã qua sử dụng không kiểm tra máy móc bên trong.

Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động SAMSUNG màu trắng, điện thoại đã qua sử dụng.

(Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa cơ quan Thi hành án dân sự và Công an tỉnh Lai Châu ngày 28/6/2017).

Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 bị cáo Tẩn Mý S (Tẩn Mý X) phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ