vanban.org

Bản án 37/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 15/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đinh Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Đinh Văn T 08 (Tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 13/6/2017). Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn T phạm tội mua bán trái phép chất ma túy. - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯ JÚT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐẮK NÔNG
Bản án số: 37/2017/HSST
Ngày: 15/9/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐĂK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Trúc Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Cường và bà Phạm Thị Thơm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư Jút,

tỉnh Đăk Nông.

- Đại diện VKSND huyện Cư Jút tham gia phiên tòa: Ông Trần Hữu Tâm -

Kiểm sát viên.

Ngày 15/9/2017 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Cư Jút mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 38/2017/HSST ngày 23 tháng 8 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2017/HSST-QĐ ngày 01 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đinh Văn T; tên gọi khác: T Điên; sinh năm: 1978 tại Ninh Bình; nơi ĐKHKTT: Thôn A, xã N, huyện C, tỉnh Đăk Nông; chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã N, huyện C, tỉnh Đăk Nông; dân tộc: Kinh; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 0/12; con ông H, sinh năm 1952 và con bà H’, sinh năm 1954; bị cáo có vợ là V, sinh năm 1979 và có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2006; tiền sự: Không; tiền án: 01 tiền án: ngày 20/8/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Cư Jút xử phạt 05 (năm) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày 28/4/2016; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 13/6/2017 đến ngày 22/6/2017 chuyển sang biện pháp tạm giam; hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Cư Jút; có mặt.

*/ Người có quyền lợi liên quan: Anh Dương Hà Đ, sinh năm 1980.

Trú tại: Thôn T, xã E, huyện C, tỉnh Đăk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 12/6/2017, T mua ma túy với số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) của người đàn ông tên B (không rõ nhân thân, lai lịch) tại quán nước mía gần nhà T ở thôn A, xã N, huyện C, tỉnh Đăk Nông. Sau khi mua ma túy, T mang về lấy một ít sử dụng, còn lại T chia thành 05 (năm) gói nhỏ cất giấu để bán cho các con nghiện. Cụ thể: 04 (bốn) gói nhỏ T cất ở lẵng hoa trong phòng khách; 01 (một) gói nhỏ Tuế cất ở dưới nệm trong phòng ngủ của nhà Tuế.

Khoảng 14 giờ ngày 13/6/2017, Đ gọi cho T hỏi mua ma túy để sử dụng thì T đồng ý. Khoảng 01 giờ sau Đ đến nhà T, đưa cho T 270.000đ (Hai trăm bảy mươi nghìn đồng) đồng thời T đưa cho Đ 01 (một) gói ma túy cất giấu ở dưới lẵng hoa. Sau đó, Đ đi ra phía sau nhà vệ sinh lấy một ít ma túy để sử dụng, còn lại cất vào trong túi quần Jean phía trước bên phải đang mặc trên người rồi vào uống nước với T. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Đ đi về, khi mới ra đến cửa nhà T thì bị Công an huyện Cư Jút bắt quả tang.

Tiến hành khám xét nhà ở của T, bị cáo tự nguyện giao nộp 04 (bốn) gói ma túy, cụ thể: 01(một) túi ni lông bên trong có 03 (ba) gói ma túy tại lẵng hoa phòng khách; 01 (một) gói ma túy dưới nệm trong phòng ngủ số 02 của nhà T.

Quá trình điều tra, T còn khai nhận: Vào khoảng 19 giờ ngày 12/6/2017,S gọi điện thoại cho T hỏi mua ma túy để sử dụng thì T đồng ý và bán cho S 01 (một) gói ma túy nhỏ được chia ra từ gói ma túy cất giấu dưới nệm trong phòng ngủ số 02 của nhà T với số tiền 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng).

Vật chứng của vụ án thu giữ gồm:

- 01 (một) gói bên ngoài bọc giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng (nghi là Heroin), được thu giữ tại túi quần Jean phía trước bên phải đang mặc trên người của Đ;

- 01 (một) túi ni lông trong suốt, bên trong có 03 (ba) gói, được thu giữ do T giao nộp trong quá trình khám xét, cụ thể: 01 (một) gói bên ngoài bọc giấy ni lông màu xanh lá cây, bên trong có chứa chất bột màu trắng; 01 (một) gói bên ngoài bọc giấy bạc màu trắng sáng, bên trong có chứa chất bột màu trắng; 01 (một) gói bên ngoài bọc lớp giấy màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng;

- 01 (một) gói bên ngoài bọc giấy bạc màu trắng sáng, bên trong có chứa chất bột màu trắng, được thu giữ do T giao nộp trong quá trình khám xét;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Gionee màu trắng thu giữ trên người của Đ;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia số hiệu 105 màu đen, do T giao nộp;

- Tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 270.000đ (hai trăm bảy mươi nghìn đồng).

Tại bản kết luận giám định số 36/PC54 ngày 20/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đăk Nông kết luận:

- Mẫu chất rắn màu trắng thu giữ trên người của Đ gửi giám định là chất ma túy, là Hêrôin, có trọng lượng: 0,0208 gam; mẫu gửi giám định đã sử dụng hết, không hoàn lại.

- Mẫu chất rắn màu trắng do T giao nộp gửi giám định là chất ma túy, là Hêrôin, có tổng trọng lượng: 0,4667 gam; còn lại sau giám định là 0,2571gam, đựng trong 01 (một) gói nilon.

- Mẫu chất rắn màu trắng do T giao nộp tại phòng ngủ gửi giám định là chất ma túy, là Hêrôin, có trọng lượng: 0,0576 gam; còn lại sau giám định là 0,0208 gam, đựng trong 01 (một) gói nilon.

Bản cáo trạng số 38/CTr-VKS ngày 22/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút truy tố bị cáo T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo các điểm b, p khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo các điểm b, p khoản 2 Điều 194 của Bộ luật hình sự là đúng, không oan.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo T như bản cáo trạng số 38/CTr-VKS ngày 22/8/2017: Truy tố bị cáo T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo các điểm b, p khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009. Sau khi phân tích các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng các điểm b, p khoản 2 Điều 194; các điểm o, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Văn T từ 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng đến 08 (Tám) năm tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) gói Hêrôin còn lại sau giám định, trong đó 01 (một) gói Hêrôin có trọng lượng 0,2571gam và 01 (một) gói Hêrôin có trọng lượng 0,0208 gam.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia số hiệu 105 màu đen và tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam 270.000đ (hai trăm bảy mươi nghìn đồng).

- Truy thu của Đinh Văn T số tiền 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) là tiền có được từ việc bán ma túy cho S.

- Trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Gionee màu trắng cho anh Dương Hà Đ là chủ sở hữu hợp pháp.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì. Bị cáo không bào chữa và cũng không tranh luận gì thêm mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cư Jút, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người có nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với hành vi của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Vào khoảng 15 giờ ngày 12/6/2017, bị cáo Đinh Văn T mua ma túy (Hêrôin) với số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) của một người đàn ông tên B (chưa rõ nhân thân lai lịch) sau đó mang về nhà lấy một ít ra sử dụng, số Hêrôin còn lại chia nhỏ để bán kiếm lợi nhuận. Cụ thể: Khoảng 19 giờ, ngày 12/6/2017, T bán 01 (một) gói Hêrôin với số tiền 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) cho S; khoảng 15 giờ ngày 13/6/2017, T bán 01 (một) gói Hêrôin với số tiền 270.000đ (hai trăm bảy mươi nghìn đồng) cho Đ; tất cả những lần bán trên đều tại nhà của T ở thôn A, xã N, huyện C, tỉnh Đăk Nông.

Số còn lại là 04 (bốn) gói Hêrôin có tổng trọng lượng 0,5243 gam, T chưa kịp bán thì bị phát hiện, thu giữ.

Lời khai của bị cáo Đinh Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập được lưu trong hồ sơ vụ án. Các chứng cứ buộc tội và ý kiến đề nghị của đại diện VKS đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật nên cần được chấp nhận. Số Hêrôin bị cáo mua và đã bán cho các đối tượng Đ, S nên phải áp dụng tình tiết định khung tăng nặng theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự “Phạm tội nhiều lần” đối với bị cáo. Đồng thời bị cáo có 01 tiền án về tội rất nghiêm trọng theo bản án số 23/2012/HSST ngày 20/8/2012 của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, bị cáo bị xử phạt 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và phạt bổ sung 10.000.000 đồng, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và án phí chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng nên phải áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm p khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Như vậy đã có đủ căn cứ pháp lý để kết luận bị cáo Đinh Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo các điểm b, p khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Điều 194 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

…

b. Phạm tội nhiều lần;

…

p. Tái phạm nguy hiểm;

…”.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rằng ma túy là chất kích thích, gây nghiện, việc lạm dụng ma túy dẫn đến hủy hoại sức khỏe, tinh thần, thoái hoá nhân cách, suy giảm khả năng lao động. Vì muốn có tiền tiêu xài một cách dễ dàng, muốn có ma túy để sử dụng mà bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy đồng thời xâm phạm đến an ninh, trật tự tại địa phương, gieo rắc cái chết trắng và gây ra các tệ nạn khác trong xã hội. Bị cáo đã từng bị phạt 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo không lấy hình phạt đó là bài học cho bản thân mà vẫn còn tái phạm việc mua bán ma túy, điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Do đó cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian suy nghĩ, hối hận về việc làm sai trái của bản thân, đủ để răn đe, giáo dục bị cáo sống có ích, có ý thức tôn trọng pháp luật và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, bị cáo tự nguyện khai báo lần phạm tội trước. Do đó, cần áp dụng các điểm o, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Đối với tên B là người đã bán ma túy cho T, hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch, cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút ra quyết định tách vụ án, tách hành vi của Bình để tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với hành vi Đ sử dụng ma túy tại nhà của T, tuy nhiên T không biết việc Đ sử dụng ma túy tại nhà của mình nên bị cáo không phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Công an huyện Cư Jút bắt quả tang Đ tàng trữ 01 gói Hêrôin có trọng lượng: 0,0208 gam, tuy nhiên sau giám định trọng lượng Hêrôin không đủ để truy tố Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Các đối tượng Đ, S khai nhận có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên ngày 26/7/2017 Công an huyện Cư Jút đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 750.000đ (bảy trăm năm mươi nghìn đồng) theo khoản 1, Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ.

Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh tài sản của Bị cáo T, xét thấy bị cáo không có tài sản riêng nên không cần thiết phải áp dụng khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự để phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

02 (hai) gói Hêrôin còn lại sau giám định, trong đó 01 (một) gói Hêrôin có trọng lượng 0,2571gam và 01 (một) gói Hêrôin có trọng lượng 0,0208 gam. Xét thấy đây là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia số hiệu 105 màu đen là công cụ phạm tội của bị cáo, 270.000 đồng là tiền thu lợi bất chính nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước; số tiền 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) là tiền bị cáo có được từ việc bán ma túy cho S cần truy thu để sung quỹ nhà nước.

- Trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Gionee màu trắng cho Đ là chủ sở hữu hợp pháp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Đinh Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng các điểm b, p khoản 2 Điều 194; các điểm o, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Đinh Văn T 08 (Tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 13/6/2017).

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) gói Hêrôin còn lại sau giám định, trong đó 01 (một) gói Hêrôin có trọng lượng 0,2571gam và 01 (một) gói Hêrôin có trọng lượng 0,0208 gam.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia số hiệu 105 màu đen và tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam 270.000đ (Hai trăm bảy mươi nghìn đồng).

- Trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Gionee màu trắng cho Dương Hà Đ là chủ sở hữu hợp pháp.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/8/2017 giữa Công an huyện Cư J út và Chi cục THADS huyện Cư Jút và theo giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước ngày 30/8/2017 của Công an huyện Cư Jút tại Kho bạc nhà nước huyện Cư Jút).

- Truy thu của T số tiền 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) là tiền có được từ việc bán ma túy cho S.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Đinh Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ.

Cỡ chữ