vanban.org

Bản án 369/2023/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 29/05/2023 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/05/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Bác kháng cáo của người khởi kiện ông Trần Văn T; giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 276/2021/HC-ST ngày 13và 15/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

[2]. Về án phí: Ông Trần Văn T được miễn án phí hành chính phúc thẩm. [3] Các quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Trần Văn T - UBND quận LB"
  • Tòa quyết gì? [1]. Bác kháng cáo của người khởi kiện ông Trần Văn T; giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 276/2021/HC-ST ngày 13và 15/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
  • Căn cứ chính? Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Điều 349 Luật Tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 369/2023/HC-PT
Ngày 29/5/2023
V/v “Khiếu kiện quyết định hành
chính”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn VĐ;

Các Thẩm phán:

Ông Mai AT;

Ông Phạm VH.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Trang, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Nhiễm, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 29 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa để xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 236/2022/TLPT-HC ngày 17 tháng 6 năm 2022 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, do có kháng cáo của người khởi kiện đối với bản án hành chính sơ thẩm số 276/2021/HC-ST ngày 13 và 15/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5206/2023/QĐ-PT ngày 12 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

* Người khởi kiện: Ông Trần Văn T, sinh năm 1959; địa chỉ: số 8, ngách 211/55 đường Bát Khối, phường Long Biên, quận LB, thành phố HN; Có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: ông Hoàng Văn Tùng và ông Đỗ Thanh Hưng – Luật sư Văn phòng luật sư Trung Hòa thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội; (Luật sư Tùng có mặt, luật sư Hưng vắng mặt).

* Người bị kiện: Chủ tịch UBND và UBND quận LB, thành phố HN; địa chỉ: số 1 Vạn Hạnh, phường Việt Hưng, quận LB, thành phố HN;

- Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Mạnh Hà - Chủ tịch; Vắng mặt.

- Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Vũ Xuân Trường - Phó Chủ tịch; Vắng mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND quận LB, thành phố HN:

+ Ông Lê Xuân Mạnh – Phó phòng Tài Nguyên Môi trường; Có mặt.

+ Ông Nguyễn Duy Anh – Chuyên viên phòng Tài Nguyên Môi trường; Vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Uỷ ban nhân dân phường Long Biên, quận LB, thành phố HN; địa chỉ: số 190 đường Bát Khối, quận LB, thành phố HN;

- Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Văn Giang - Chủ tịch; Vắng mặt.

- Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Ngô Tuấn Ngọc - Phó Chủ tịch; Vắng mặt.

2. Bà Nguyễn Thị Sâm, sinh năm 1960; Vắng mặt.

3. Anh Trần Văn Thuận, sinh năm 1986; Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: số 8 ngách 211/55 đường Bát Khối, phường Long Biên, quận LB, thành phố HN.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ông Trần Văn T trình bày:

Về nguồn gốc đất, gia đình ông được Hợp tác xã giao đất từ năm 1987 diện tích 240m2. Năm 1990 gia đình ông chuyển ra diện tích đất này sinh sống và xây dựng các công trình trên đất (02 nhà cấp 4, công trình phụ, giếng khoan, tường bao cao 2m). Từ năm 1990 cho đến nay gia đình ông sinh sống tại đây ổn định, không có tranh chấp với ai và hàng năm vẫn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với nhà nước.

Diện tích đất này hiện nay gia đình chưa, dược cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trong quá trình sinh sống, ông đã cho con trai là Trần Văn Toàn 81,7m2, cho anh Trần Văn Thắng diện tích 70,9m2. Năm 2003 ông chuyển nhượng cho ông Trần Quang Ngải diện tích 70m2. Diện tích còn lại 70,9m2, hiện nay ông và vợ ông cùng con trai là Trần Văn Thuận quản lý sử dụng.

Việc UBND quận Long Biên thu hồi đất là không đúng quy định của pháp luật, vi phạm Điều 2 Nghị định 11/2013/NĐ-CP ngày 14/1/2013 của Chính phủ về quản lý đất đầu tư đô thị. Không được phép thu hồi đất đô thị để xây dụng cơ sở hạ tầng đấu giá đất mà phải thu hồi từ các loại đất khác. Mặt khác dự án đã được phê duyệt từ 2011 gia đình ông và các hộ xung quanh không được thông báo, không được lấy ý kiến là ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các hộ đang sử dụng đất. Việc xác định nguồn gốc đất của gia đình ông là đất nông nghiệp là không đúng. Việc thu hồi đất không xem xét chính sách bồi thường tái định cư cho gia đình ông.

Năm 2020 gia đình ông nhận được Quyết định 4657/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 về việc thu hồi đất và Quyết định 4678/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của UBND quận Long Biên. Gia đình ông không đồng ý với nội dung của 02 Quyết định nêu trên do UBND quận Long Biên ban hành. Nên đã có đơn khiếu nại đến Chủ tịch UBND quận Long Biên. Kết quả giải quyết la vẫn giữ nguyên 02 quyết định trên.

Đối với việc cưỡng chế kiểm đếm tài sản trên đất bị thu hồi thì ông không đồng ý cho thực hiện kiểm đếm nhưng UBND quận Long Biên vẫn tiến hành cưỡng chế kiểm đếm.

Ổng khởi kiện và yêu cầu khởi kiện bổ sung của mình theo nội dung Đơn khởi kiện đề ngày 04/06/2020, Đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 15/09/2020 và không sửa đổi hay bổ sung thêm yêu cầu khởi kiện. Đề nghị Toà án giải quyết:

- Huỷ Quyết định 4657/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND quận Long Biên về việc thu hồi đất.

- Huỷ Quyết định 4678/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND quận Long Biên về việc phê duyệt phương án bồi thường và tái định cư.

- Huỷ Quyết định số 1879/QĐ-UBND ngày 22/04/2020 của Chủ tịch UBND quận Long Biên về việc cưỡng chế thu hồi đất.

Ngày 25/10/2021 ông Trần Văn T có đơn khởi kiện bổ sung đề nghị Tòa án xem xét hủy Quyết định số 2170/QĐ-UBND ngày 29/4/2020 của Chủ tịch UBND quận Long Biên về việc giải quyết khiếu nại lần đầu.

Ông khẳng định ngoài diện tích đất bị thu hồi thì gia đình ông không còn nhà đất nào khác để sinh sống, ông đề nghị Toà án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật đảm bảo quyền lợi cho gia đình ông.

Ông Tương cam kết từ khi nộp dơn khởi kiện vụ án hành chính, gia đình không làm thủ tục khiếu nại tới bất kỳ cơ quan nhà nước có thẩm quyền nào.

* Quan điểm người bị kiện là Chủ tịch và UBND quận Long Biên:

1. Đối với Quyết định sẻ 4657/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND quận Long Biên về việc thu hồi đất.

Ngày 01/7/2011, ƯBND thành phố Hà Nội ban hành quyết định số 3165/QĐ- UBND về việc phê duyệt quy hoạch chỉ tiết tỷ lệ 1/500 cải tạo và xây dựng mới Khu nhả ở phục vụ dự án giải phóng mặt bằng và san nền sơ bộ khu đất để đấu giá quyền sử dụng đất tại phường Long Bỉên, quận Long Biên; ngày 24/4/2014, UBND quận Long Biên ban hành Quyết định số 4210/QĐ-UBND về việc phê duyệt dự án đầu tư “Xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đất đế đấu giá quyền sử dụng đât tại phường Long Biên, quận Long Biên, Hà Nội.” Trên cơ sở đó, Sở Tài nguyên và Môi trường cùng UBND quận Long Biên đã tiến hành giao, nhận mốc giới dự án phục vụ công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án Đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đất để đấu giá quyền sử dụng đất phường Long Biên, quận Long Biên, Hà Nội.

Ngày 10/01/2018, UBND thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số 212/QĐ-UBND về việc phê duyệt kế hoạch sử dụng đất quận Long Biên năm 2018; Ngày 07/03/2019, UBND thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số 1086/QĐ-UBND về việc phê duyệt kế hoạch sử dụng đất quận Long Biên năm 2019; Ngày 07/6/2018, UBND quận Long Biên đã ban hành thông báo thu hồi đất đối với gia đình ông Trần Văn T; Tổ công tác đã điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm đất đai, tài sản gắn liền với đất phục vụ công tác giải phóng mặt bằng xác định toàn bộ diện tích đất 70,9m2 gia đình ông Trần Văn T đang sử dụng nằm trong ranh giới dự án. Trên cơ sở đó, UBND quận Long Biên đã ban hành Quyết định 4657/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 về việc thu hồi 70,9m2 đất do hộ gia đình ông Trần Văn T đang sử dụng để thực hiện dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đất để đấu giá quyền sử dụng đất tại phường Long Biên, quận Long Biên, Hà Nội.

Từ những căn cứ trên, có thể thấy: Việc UBND quận Long Biên ban hành Quyết định 4657/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 thu hồi toàn bộ 70,9m2 đất do hộ gia đình ông Trần Văn T đang sử dụng để thực hiện dự án chỉnh trang đô thị theo quy hoạch đã được UBND thành phố phê duyệt là phù hợp quy định tiết d khoản 3 Điều 62, Điều 63 Luật đất đai 2013 và đúng thẩm quyền, trình tự thu hồi đất quy định tại Điều 66, 69 Luật đất đai 2013.

Do đó, UBND quận Long Biên không đồng ý hủy Quyết định số 4657/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 về việc thu hồi đất. Nội dung này đã được UBND quận Long Biên khẳng định tại Quyết định số 2170/QĐ-UBND ngày 29/4/2020 về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của ông Trần Văn T.

2. Đối với Quyết định số 4678/QĐ-ƯBND ngày 31/12/2019 của UBND quận Long Biên về việc phê duyệt phương án bồi thường, hễ trợ và tái định cư.

2.1. Vị trí, nguồn gốc, quá trình và hiện trạng sử dụng.

2.1.1 Vị trí: Diện tích 70,9m2 đất đang xem xét có địa chỉ tại tổ 12, khu Con Trắm, phường Long Biên, quận Long Biên; thuộc thửa đất số 479-1, tờ bản đồ số 29 bản đồ địa chính phường Long Biên.

2.1.2 Nguồn gốc, quá trình sử dụng đất.

Diện tích 252,0m2 đất nông nghiệp của hộ gia đình ông Trần Văn T được giao theo khoán 10/1987 (hiện trạng sử dụng từ thời điểm giao đất là 280,7m2 không lấn chiếm đất công). Quá trình sử dụng hộ ông Trần Văn T đã xây dựng công trình nhà cấp 4 và tự chuyển mục đích sang đất ở thể hiện tại biên bản kiểm tra vi phạm sử dụng đất lập tháng 9/2002. Ngày 20/05/2004 gia đình ông Trần Văn T lập biên bản họp gia đình chia tách cho con là ông Trần Văn Thắng sử dụng diện tích 60,0m2 (hiện trạng 70,9m2) cho ông Trần Văn Toàn sử dụng diện tích 67,0m2 (hiện trạng là 81,7m2); Ngày 17/03/2003, gia đình ông Trần Văn T chuyển nhượng cho ông Trần Quang Ngải sử dụng diện tích 60,2m2 (giấy viết tay); Ngày 14/5/2003, ông Trần Quang Ngải chuyển nhượng cho ông Lê Ngọc Thịnh (giấy viết tay); Ngày 16/10/2009, ông Lê Ngọc Thịnh chuyển nhượng cho bà Trần Thị Thắng (giấy viết tay); Ngày 13/3/2010, bà Trần Thị Thắng chuyển nhượng cho ông Đỗ Khắc Bình (giấy viết tay), diện tích chuyển nhượng 60,0m2, (hiện trạng 70,7m2); diện tích còn lại 70,9m2 ông Trần Văn T sử dụng.

2.1.3 Hiện trạng sử dụng: Hiện trạng hộ ông Trần Văn T đang quản lý sử dụng diện tích 70,9m2 đất, sử dụng ổn định, không tranh chấp, không lấn chiếm đất công. Hiện trạng là đất trống, không có công trình trên đất.

2.1.4 Tình trạng nhà, đất và ăn ở thường xuyên.

- Hộ gia đình ông Trần Văn T không sinh sống ăn ở thường xuyên tại địa chỉ thu hồi đất, giải phóng mặt bằng; có nhà ở, đất tại thửa đất số 72, tờ bản đồ số 06 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

- Ngày 31/10/2018, Công an quận Long Biên ban hành Văn bản số 1465/CALB-QLHC về việc xác minh tình trạng ăn ở của các hộ tại địa chỉ thu hồi đất theo đó Công an quận đã phối hợp với Công an phường Long Biên xác minh thể hiện nội dung hộ ông Trần Văn T không sinh sống ăn ở thường xuyên tại địa chỉ thu hồi đất.

- Ngày 05/6/2019, UBND phường Long Biên phối hợp với Công an phường lập biên bản kiểm tra, xác minh việc ăn ở thường xuyên tại địa chỉ giải phóng mặt bằng thể hiện hộ ông Trần Văn T không sinh sống ăn ở thường xuyên tại địa chỉ thu hồi đất.

- Ngày 10/6/2018, UBND phường Long Biên xác nhận việc sử dụng đất, tài sản trên đất và tình trạng nhà ở, đất ở của ông Tran Văn Tương thể hiện hộ ông Trần Văn T không sinh sống ăn ở thường xuyên tại địa chỉ bị thu hồi đất và có nhà ở, đất ở trên địa bàn phường Long Biên.

2.2. Quá trình thực hiện giải phóng mặt bằng:

- Ngày 24/4/2014, UBND quận Long Biên ban hành Quyết định số 4210/QĐ- UBND về việc phê duyệt dự án đầu tư: Xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đất để đấu giá quyền sử dụng đất tại phường Long Biên, quận Long Biên.

- Ngày 07/6/2018, ƯBND quận Long Biên ban hành Thông báo thu hồi đất đối với hộ gia đình ông Trần Văn T.

- Ngày 28/8/2018, ƯBND quận Long Biên ban hành Quyết định số 1127/QĐ- CTUBND về việc kiểm đếm bắt buộc đối với hộ ông Trần Văn T.

- Ngày 08/10/2018, ƯBND quận Long Biên ban hành Quyết định số 1366/QĐ-CTUBND về việc cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc đối với hộ ông Trần Văn T.

- Ngày 26/10/2018, Tổ công tác giải phóng mặt bằng thực hiện cưỡng chế kiểm đếm khối lượng đất đai, công trình xây dựng vật kiến trúc và cây cối hoa màu trên đất đối với hộ ông Trần Văn T.

- Ngày 10/6/2019, UBND phường Long Biên xác nhận nguồn gốc sử dụng đất, công trình xây dựng, vật kiến trúc và cây cối hoa màu trên đất thuộc phạm vi thu hồi đất phục vụ công tác giải phóng mặt bằng đối với hộ gia đình ông Trần Văn T.

- Ngày 31/12/2019, ƯBND quận Long Biên ban hành Quyết định số 4678/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thực hiện thu hồi đất đối với hộ ông Trần Văn T; phương án thể hiện diện tích đất 70,9m2 được bồi thường theo giá đất nông nghiệp 252.000đ/m2; hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề; không được hỗ trợ giao đất tái định cư.

Có thể thấy:

- Diện tích đất 70,9m2 của ông Trần Văn T đang quản lý sử dụng có nguồn gốc đất nông nghiệp được giao khoán 10 năm 1987; hiện trạng là đất trống; như vậy, diện tích đất 70,9m2 đủ điều kiện được bồi thường về đất theo giá đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất, được hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề theo quy định tại điều 5, điều 22 Quyết định số 10/2017/QĐ-UBND ngày 29/03/2017 của UBND thành phố Hà Nội. Nội dung phương án bồi thường, hỗ trợ về đất là đúng quy định của pháp luật.

- Tại thời điểm kiểm đếm, hộ ông Trần Văn T không sinh sống, ăn ở thường xuyên tại địa chỉ bị thu hồi đất; đang có nhà ở, đất ở trên địa bàn phường; thuộc trường hợp thu hồi đất nông nghiệp, không được hỗ trợ theo giá đất ở, không phải di chuyển chỗ ở nên không đủ điều kiện được xét giao đất tái định cư theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 27 Quyết định số 10/2017/QĐ-UBND ngày 29/03/2017 ciìa UBND thành phố Hà Nội.

Do vậy, phương án bồi thường, hỗ trợ đối với hộ gia đình ông Trần Văn T do UBND quận Long Biên phê duyệt tại Quyết định số 4678/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 khi nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án “Xây dựng hạ tầng khu đất để đấu giá quyền sử dụng đất tại phường Long Biên, quận LB, thành phố HN” là đúng quy định của pháp luật, UBND quận Long Biên không đồng ý hủy Quyết định số 4678/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 về việc phê duyệt phương án bồĩ thường, hỗ trợ và tái định cư.

3. Đối với yêu cầu hủy Quyết định số 2171/QĐ-UBND ngày 29/4/2020 của UBND quận Long Biên về việc giải quyết khiếu nại quyết định thu hồi đất của ông Trần Văn T; Thông báo sô 449/TB-UBND ngày 03/9/2020 của UBND quận Long Biên về việc không giải quyết khiếu nại quyết định phê duyệt phương án bồi thường; Quyết định số 1879/QĐ-UBND ngày 22/4/2021 về việc cưỡng chế thu hồi đất; UBND quận xin tự khai như sau:

3.1. Trình tự, thủ tục và thẩm quyền:

a. Đối với Quyết định số 2171/QĐ-UBND ngày 29/4/2020 và Thông báo số 450/TB-UBND ngày 03/9/2020 của UBND quận Long Biên:

Quá trình giải quyết đơn, UBND quận Long Biên đã thực hiện theo đúng thẩm quyền quy định tại Điều 18 Luật Khiếu nại năm 2011 và đúng trình tự, thủ tục quy định tại Mục 2 Chương 3 Luật Khiếu nại năm 2011, cụ thể: Sau khi nhận được đơn khiếu nại của ông Trần Văn T đối với Quyết định số 4657/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND quận Long Biên về việc thu hồi đất và Quyết định số 4678/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND quận Long Biên về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; UBND quận Long Biên đã ban hành Thông báo thụ lý số 127/TB-UBND ngày 31/3/2020 và Thông báo số 449/TB-UBND ngày 03/9/2020 về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại theo quy định tại Điều 27 Luật Khiếu nại năm 2011.

Ngày 29/4/2020, Phòng Tài nguyên và Môi trường (được chủ tịch UBND quận Long Biên giao nhiệm vụ xác minh khiếu nại theo Quyết định số 1540/QĐ-UBND ngày 31/03/2020) đã ban hành Báo cáo số 466/BC-TNMT về kết quả xác minh nội dung khiếu nại của ông Trần Văn T.

Ngày 24/4/2020, ƯBND quận Long Biên đã tổ chức đối thoại với ông Trần Văn T. Tuy nhiên, kết quả đối thoại không thành.

Ngày 29/4/2020, UBND quận Long Biên đã ban hành Quyết định số 2170/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của ông Trần Văn T.

b. Quyết định số 1879/QĐ-UBND ngày 22/4/2021 về việc cưỡng chế thu hồi đất: UBND quận Long Biên đã thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 69 Luật Đất đai năm 2013, cụ thể: Ngày 31/12/2019, UBND quận Long Biên đã ban hành Quyết định số 4657/QĐ-UBND về việc thu hồi 70,9m2 đất do hộ gia đình ông Trần Văn T đang sử dụng tại phường Long Biên, đề thực hiện dự án Xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đất để đấu giá quyền sử dụng đất tại phường Long Biên, quận Long Biên, Hà Nội và Quyết định số 4678/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với hộ gia đình ông Trần Văn T trong phạm vi giải phóng mặt bằng thực hiện dự án Xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đất để đấu giá quyền sử dụng đất tại phường Long Biên, quận Long Biên, Hà Nội.

Ngày 15/01/2020, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phối họp với UBND phường Long Biên công khai Quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt chi tiết phương án bồi thường, hỗ trợ ngày 31/12/2019 của UBND quận Long Biên theo Thông báo số 39/TB-UBND. Theo đó, thời gian công khai từ ngày 14/01/2020 đến hết ngày 19/01/2020 tại trụ sở UBND phường, trụ sở tổ dân phố 12, 14.

Ngày 27/02/2020, UBND phường Long Biên lập biên bản về việc vận động, thưyết phục, tuyên truyền hộ gia đình, cá nhân nhận tiền và bàn giao mặt bằng để GPMB thực hiện dự án: Xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đất để đấu giá quyền sử dụng đất tại phường Long Biên, quận Long Biên, Hà Nội. Theo đó, hộ gia đình ông Trần Văn T vắng mặt không có lý do.

Ngày 09/3/2020, UBND phường Long Biên lập biên bản về việc nhận tiền và bàn giao mặt bằng của các hộ gia đình, cá nhân nằm trong ranh giới giải phóng mặt bằng thực hiện dự án: Xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đất để đấu giá quyền sử dụng đất tại phường Long Biên, quận Long Biên, Hà Nội. Theo đó, hộ gia đình ông Trần Văn T không nhận tiền bồi thường và không bàn giao mặt bằng.

Ngày 22/4/2021, UBND quận Long Biên đã ban hành Quyết định số 1879/QĐ-UBND về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với hộ gia đình ông Trần Văn T.

3.2. Căn cứ pháp lý:

a. Thông báo số 449/TB-UBND ngày 03/9/2020 của UBND quận Long Biên Sau khi nhận được đơn khiếu nại của ông Trần Văn T đối với Quyết định số 4678/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND quận Long Biên về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; Do việc khiếu nại của gia đình ông đã được Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết theo vụ án hành chính sơ thẩm số 188/2020/TLST-HC ngày 01/8/2020 nen UBND quận Long Biên đã ban hành Thông báo số 449/TB-UBND ngày 03/9/2020 về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại theo quy định tại khoản 9 Điều 11 Luật Khiếu nại năm 2011.

b. Đối với Quyết định sổ 2170/QĐ-UBND ngày 29/4/2020 của UBND quận Long Biên Ông Trần Văn T có đơn khiếu nại quyết định trên vì cho rằng: Việc UBND quận Long Biên ban hành Quyết định số 4657/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND quận Long Biên về việc thu hồi 70,9m2 đất của gia đình ông là không đúng quy định của pháp luật.

Kết quả xác minh nội dung khiếu nại cho thấy: Ngày 01/7/2011, UBND thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số 3165/QĐ-UBND về việc “Phê duyệt quy hoạch chỉ tỉết tỷ lệ 1/500 cải tạo và xây dựng mới Khu nhà ở phục vụ dự án giải phóng mặt bằng và san nền sơ bộ khu đầt đê đâu giá quyên sử dụng đất tại phường Long Biên, quận Long B iê n Trên cơ sở đó, Sở Tài nguyên và Môi trường cùng UBND quận Long Biên đã tiến hành giao, nhận mốc giới dự án phục vụ công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án Đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đất để đấu giá quyền sử dụng đất phường Long Biên, quận Long Biên, Hà Nội. Toàn bộ thửa đất số 479-1, tờ bản đồ số 29, diện tích 70,9m2 gia đình ông Trần Văn T đang sử dụng nằm trong ranh giới thực hiện dự án (một phần diện tích làm đường giao thông và phân còn lại diện tích làm bãi đỗ xe).

Dự án Xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đất để đấu giá quyền sử dụng đất tại phường Long Biên, quận Long Biên, Hà Nội đã được Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua theo Nghị quyết số 19/NQ-HĐND ngày 05/12/2017 và nằm trong kế hoạch sử dụng đất năm 2018 của quận Long Biên đã được UBND thành phố Hà Nội phê duyệt tại Quyết định 212/QĐ-UBND ngày 10/01/2018; kế hoạch sử dụng đất năm 2019 của quận Long Biên đã được UBND thành phố Hà Nội phê duyệt tại Quyết định 1086/QĐ-UBND ngày 07/3/2019.

Từ kết quả xác minh trên, việc UBND quận Long Biên ban hành Quyết định số 4657/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND quận Long Biên về việc thu hồi 70,9m2 đất của gia đình ông Trần Văn T để thực hiện dự án là phù hợp quy định tại Tiết d khoản 3 Điều 62, Điều 63 Luật Đất đai năm 2013.

Ngày 29/4/2020, UBND quận Long Biên đã ban hành Quyết định số 2170/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của ông Trần Văn T. Theo đó, giữ nguyên Quyết định số 4657/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND quận Long Biên về việc thu hồi 70,9m2 đất của gia đình ông Trần Văn T để thực hiện dự án Xây dụng hạ tầng kỹ thuật khu đất để đấu giá quyền sử dụng đất tại phường Long Biên, quận Long Biên, Hà Nội.

c. Đối với Quyết định số 1879/QĐ-UBND ngày 22/4/2021 về việc cưỡng chế thu hồi đất Ngày 27/02/2020, UBND phường Long Biên lập biên bản về việc vận động, thuyết phục, tuyên truyền hộ gia đình, cá nhân nhận tiền và bàn giao mặt bằng để GPMB thực hiện dự án: Xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đất để đấu giá quyền sử dụng đất tại phường Long Biên, quận Long Biên, Hà Nội. Theo đó, hộ gia đình ông Trần Văn T vắng mặt không có lý do.

Ngày 09/3/2020, UBND phường Long Biên lập biên bản về việc nhận tiền và bàn giao mặt bằng của các hộ gia đình, cá nhân nằm trong ranh giới giải phóng mặt bằng thực hiện dự án: Xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đất để đấu giá quyền sử dụng đất tại phường Long Biên, quận Long Biên, Hà Nội. Theo đó, hộ gia đình ông Trần Văn T không nhận tiền bồi thường và không bàn giao mặt bằng.

Gia đình ông Trần Văn T đã được vận động, thuyết phục nhưng không chấp hành việc bàn giao đất cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng. Do đó, UBND quận Long Biên đã ban hành Quyết định số 18769/QĐ-UBND ngày 22/4/2021 về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với hộ gia đình ông Trần Văn T theo quy định tại Tiết d Khoản 3 Điều 69 và Khoản 3 Điều 71 Luật Đất đai năm 2013.

Vì các lẽ trên, UBND quận Long Biên không đồng ý hủy Đối với yêu cầu hủy Quyết định số 2170/QĐ-UBND ngày 29/4/2020 của UBND quận Long Biên về việc giải quyết khiếu nại quyết định thu hồi đất của ông Trần Văn T; Thông báo số 449/TB-UBND ngày 03/9/2020 về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và Quyết định số 1879/QĐ-UBND ngày 22/4/2021 về việc cưỡng chế thu hồi đất. Đề nghị To à án nhân dân thành phố Hà Nội xem xét quyết định.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quan điểm: UBNDphường Long Biên:

1. Chủ sử dụng: Thửa đất số 479-1, tờ bản đồ số 29 (Bản đồ đất thổ cư phường Long Biên đo vẽ năm 1992-1993), diện tích 70,9m2, địa chỉ thửa đất: Tổ 12, phường Long Biên, quận Long Biên, TP Hà Nội.

2. Nguồn gốc sử dụng đất: Là đất nông nghiệp giao theo khoán 10 năm 1987 cho ông hộ gia đình ông Trần Văn T, diện tích giao đất thể hiện tại hồ sơ UBND phường quản lý là 252,0m2. Tại thời điểm tháng 9/2002 tổ công tác kiểm tra vi phạm sử dụng đất nông nghiệp, lâm nghiệp của hộ gia đình thực hiện theo Chỉ thị 17/2002/CT-UB ngày 09/4/2002 của Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội ghi nhận gia đình ông Trần Văn T đã tự chuyển đổi mục đích và xây dựng nhà trên đất nông nghiệp (theo biên bản lập tháng 9/2002 mang tên ông Tương ghi nhận nhà cấp 4 diện tích 15,0m2; công trình phụ 20,0m2, tường bao xung quanh). Diện tích hiện trạng của toàn bộ thửa đất là 280,7m2 (tăng 28,7m2 do hộ gia đình tự sử dụng từ thời điểm giao đất, không nằm trong quỹ đất công hiện UBND phường đang quản lý) trong đó gồm: Phần diện tích 57,4m2 của ông Trần Văn Thắng sử dụng thể hiện theo biên bản họp gia đình ghi nhận ngày 20/5/2004, diện tích theo giấy biên bản là 60,0m2. Ông Thắng đã kê khai và nộp thuế đất phi nông nghiệp từ năm 2012. Hiện ông Thắng đang sinh sống tại vị trí đất trên; Phần diện tích 81,7m2 của ông Trần Văn Toàn sử dụng thể hiện theo biên bản họp gia đình ghi nhận ngày 20/5/2004 , diện tích theo giấy biến bản là 67,0m2. Ông Toàn đã kệ khai và nộp thuế đất phi nông nghiệp từ năm 2012; Phàn diện tích 70,7m2 của ông Đỗ Khắc Bình sử dụng thể hiện: Tháng 3/2003 ông Tương nhượng lại một phần nhà đất cho ông Trần Quang Ngải, (giấy viết tay). Tháng 5/2003 ông Ngải nhượng lại phần diện tích nhà đất trên và một căn nhà cấp 4 cho ông Lê Ngọc Thịnh (giấy viết tay). Tháng 10/2009 ông Thịnh Nhượng lại cho bà Trần Thị Tương (giấy viết tay) toàn bộ phần diện tích nhà đất trên. Tháng 3/2010 bà Tương nhượng lại toàn bộ diện tích nhà đất trên cho ông Đỗ Khắc Bình và bà Trần Thị Thanh Thúy (mua bán viết tay); Gia đình ông Bình và bà Thúy đã kê khai, nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp từ năm 2012 và sinh sống ổn định tại vị trí đất trên; Phần diện tích 70,9m2 hiện gia đình ông Trần Văn T đang sử dụng ổn định, không tranh chấp khiếu kiện. Hiện trạng khu đất là đất trống, không có công trình trên đất và chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

3. Về tình trạng ăn ở: Theo Văn bản số 1465/CALB-QLHC, ngày 31/10/2018 của Công an quận Long Biên xác nhận ông Trần Văn T: Không xác định.

* Quan điểm của bà Nguyễn Thị Sâm nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông Tương và xin được ủy quyền cho ông Tương giải quyết vụ kiện.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 276/2021/HC-ST ngày 13, 15/12/2021, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định: Căn cứ khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 30, Điều 32, Điều 157, khoản 1 Điều 158, khoản 1 điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 194; Điều 204; Điều 206, khoản 1 Điều 348 Luật Tố tụng hành chính; điểm a khoản 2 Điều 66, Điều 69; Điều 82 Luật Đất đai năm 2013; khoản 1 Điều 20 Nghị định 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai 2013; Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T về việc yêu cầu hủy các quyết định:

- Quyết định 4657/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND quận Long Biên về việc thu hồi đất;

- Quyết định 4678/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND quận Long Biên về việc phê duyệt phương án bồi thường và tái định cư;

- Quyết định số 1879/QĐ-UBND ngày 22/04/2020 của Chủ tịch UBND quận Long Biên về việc cưỡng chế thu hồi đất;

- Quyết định số 2170/QĐ-UBND ngày 29/4/2020 của UBND quận Long Biên về việc giải quyết khiếu nại quyết định thu hồi đất.

- Không chấp nhận yêu cầu về việc UBND quận Long Biên giữ nguyên hiện trạng đất của gia đình ông Trần Văn T.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 11/3/2022, người khởi kiện là ông Trần Văn T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện và kháng cáo là ông Trần Văn T giữ nguyên nội dung kháng cáo và nhờ luật sư bảo vệ trình bầy nội dung kháng cáo. Cụ thể: Toàn bộ diện tích 252m2 đất gia đình ông Tương được giao đất giãn dân từ năm 1987 chứ không phải là đất nông nghiệp giao theo Chỉ thị khoán 10, việc giao đất tuy không có tài liệu cụ thế nhưng nhiều gia đình trong cùng khu vực đều được giao cùng đợt. Thực tế từ năm 1990 gia đình ông Tương đã làm nhà, công trình trên đất đó, sau đó đã chia cho hai người con thành thửa riêng làm nhà hiện vẫn đang ở, đã được cấp số nhà thuộc khu dân cư; còn đối với đất ở trong làng là của bố mẹ ông Tương để lại. Căn nhà ông Tương xây dựng từ năm 1990 đã bị bão làm đổ nhưng hiện vẫn còn móng tường, phần chia cho các con của ông Tương thì vẫn đang có nhà ở bình thường vì vậy khi thì ông Tương ở nhà của con, khi thì ở ngôi nhà trong làng do bố mẹ để lại. Năm 2019 mới có quyết định thu hối đất, trước đó không hề có thông báo thu hồi nhưng Ủy ban nhân dân quận Long Biên lại căn cứ vào quyết định phê duyệt dự án từ năm 2014 là không đúng kế hoạch sử dụng đất do UBND thành phố Hà Nội năm 2018 mới được phê duyệt. Đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện, hủy các quyết định thu hồi đất và phương án bồi thường đang bị khởi kiện để làm lại thủ tục thu hồi đất theo đúng quy định.

Người bị kiện có quan điểm như đã trình bày tại giai đoạn giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao kết luận:

Kháng cáo trong hạn luật định, đúng quy định nên cần được chấp nhận để xét. Việc chấp hành pháp luật của nhưng người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quy định.

Về nội dung: Đối với diện tích đất của gia đình ông Tương bị thu hồi theo các quyết định thu hồi đất, phương án bồi thường, quyết định giải quyết khiếu nại đối với diện tích 70,9m2 tại thửa 419 từ bản đồ 29 phường Long Biên mà người khởi kiện cho rằng đó là đất giao theo diện giãn dân không phải là đất nông nghiệp; nhưng UBND phường Long Biên xác định đây là đất nông nghiệp đã bị gia đình ông Tương tự ý chuyển mục đích sử dụng. Thực tế người khởi kiện không có tài liệu nào xác định về việc được giao đất.

Từ năm 2011 tại Quyết định 3165 của UBND thành phố Hà Nội đã phê duyệt dự án này, đến năm 2014 UBND Quận Long Biên phê duyệt dự án và được bàn giao mốc giới thực hiện dự án. Ngày 10/01/2018 UBND thành phồ Hà Nội tiếp tục phê duyệt kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn quận Long Biên để thực hiện đầu tư theo đúng quy định. Trên cơ sở đó UBND quận Long Biên đã ban hành các quyết định thu hồi đất số 4657 và 4678 là đúng quy định. Do đó đề nghị bác kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu bản án sơ thẩm, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao. Hội đồng xét xử thấy:

Về tố tụng:

Kháng cáo của ông Trần Văn T trong hạn và đúng quy định nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa các bên đương sự không xuất trình thêm chứng cứ nào mới.

Về quan hệ pháp luật, đối tượng khởi kiện, thẩm quyền giải quyết, về thời hiệu khởi kiện, về xác định tư cách tham gia tố tụng đều đã được tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng và đầy đủ.

Về nội dung, xét kháng cáo của ông Trần Văn T:

Xét các quyết định bị khiếu kiện:

. Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành các quyết định: Quá trình tham gia tố tụng các đương sự không tranh chấp pháp lý về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành các quyết định nên các quyết định: Quyết định số 4657/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND quận Long Biên về thu hồi đất; Quyết định số 4678/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND quận Long Biên về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ chi tiết là đúng thẩm quyền theo quy đinh tại theo quy định tại khoản 2 Điều 66 và điểm a khoản 2 Điều 69 Luật Đất đai. Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật đất đai; Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất.

Quyết định số 2170/QĐ-UBND ngày 29/4/2020 của chủ tịch UBND quận Long Biên về việc giải quyết khiếu nại lần đầu là đúng thẩm quyền và trình tự thủ tục theo quy định tại Điều 17, 18 Luật Khiếu nại 2011; Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015;

Quyết định số 1879/QĐ-UBND ngày 22/04/2020 của Chủ tịch UBND quận Long Biên về việc cưỡng chế thu hồi đất đã ban hành đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 69 Luật Đất đai

. Về nội dung các quyết định:

Đối với Quyết định số 4657/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND quận Long Biên về việc thu hồi 70,9m2 2 đất nông nghiệp hiện gia đình ông Tương đang sử dụng thuộc thửa số 479-1, tờ bản đồ số 29 bản đồ địa chính phường Long Biên. Quá trình giải quyết vụ án, ông Tương cho rằng UBND quận Long Biên xác định sai nguồn gốc đất, đất của gia đình ông là đất “Giãn dân” không phải đất “Nông nghiệp”. Xét các tài liệu có trong hồ sơ do UBND phường Long Biên quản lý thì thửa đất của gia đình ông có nguồn gốc là đất Nông nghiệp, được giao khoản vào tháng 10 năm 1987. Trong quá trình sử dụng ông Tương đã tự ý chuyển đối mục đích sử dụng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Tương thừa nhận không có tài liệu nào về việc được giao đất giãn dân và xác định đã tự làm nhà ở trên đất đó và chia cho các con nên còn lại 70,9m2. Vì vậy tòa án cấp sơ thẩm xác định nguồn gốc đất bị thu hồi theo các quyết định bị khởi kiện là đất nông nghiệp. Ngày 07/6/2018, UBND quận Long Biên đã ban hành thông báo thu hồi đất đối với gia đình ông Trần Văn T; Tổ công tác đã điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm đất đai, tài sản gắn liền với đất phục vụ công tác giải phóng mặt bằng xác định toàn bộ diện tích đất 70,9m2 gia đình ông Trần Văn T đang sử dụng nằm trong ranh giới dự án. Do vậy, việc UBND quận Long Biên ban hành Quyết định thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình ông Tương nằm trong chỉ giới giải phóng mặt bằng dự án “Xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đất để đầu giá quyền sử dụng đất tại phường Long Biên, quận Long Biên. Diện tích 70,9m2 2 đất nông nghiệp không được giao theo Nghị Định 64/CP mà được giao theo khoán 10 năm 1987, hộ gia đình sử dụng ổn định từ trước ngày 01/7/2004 là có căn cứ. Nên Quyết định trên UBND quận đã xác nhận đúng nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất là đúng, về trình tự, thủ tục, thẩm quyền thu hồi đất của UBND quận đã thực hiện đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Đối với Quyết định số 4678/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND quận Long Biên về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ chi tiết cụ thế: Tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ là: 107.413.500 đồng, cụ thể: Bồi thường giá trị đất bị thu hồi 70,9m2 x 252.000đồng= 17.866.800đồng; Hỗ trợ gia đình chính sách, gia đình đang hưởng chế độ khi phải di chuyển chỗ ở 70,9m2 x 252.000đồng x 5= 89.334.000đồng; Hỗ trợ thưởng tiến độ 70,9m2 x 3.000đồng = 212.700 đồng. HĐXX thấy UBND quận Long Biên đã tiến hành xác minh việc quản lý, sử dụng, nguồn gốc đất của hộ gia đình ông Tương đang quản lý sử dụng nên Phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ về giá đất bồi thường, hỗ trợ đào tạo chuyến đổi nghề theo quy định tại Điều 5, Điều 22 Quyết định số 10/2017/QĐ-UBND ngày 29/03/2017 của UBND thành phố Hà Nội.

Quyết định trên UBND quận đã xác định đúng về giá và các phương án bồi thường, về trình tự, thủ tục, thẩm quyền thu hồi đất của UBND quận đã thực hiện đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Đối với Quyết định số 2171/QĐ-UBND ngày 29/4/2020 của Chủ tịch UBND quận Long Biền về việc giải quyết khiếu nại lần đầu.

Việc UBND quận Long Biên ban hành Quyết định số 4657/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND quận Long Biên về việc thu hồi 70,9m2 2 đất của gia đình ông Tương đang sử dụng để thực hiện dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đất để đấu giá quyền sử dụng đất tại phường Long Biên, quận LB, thành phố HN. Ông Tương đã khiếu nại Quyết định trên vì cho rằng quyết định ban hành không đúng quy định của pháp luật.

UBND quận Long Biên đã thực hiện việc lập biên bản xác minh khiếu nại và ngày 24/4/2020 UBND quận Long Biên đã tổ chức đối thoại với ông Trần Văn T. Trên cơ sở đó ngày 29/4/2020, UBND quận Long Biên đã ban hành Quyết định số 2171/QĐ-UBND ngày 29/4/2020 của Chủ tịch UBND quận Long Biên về việc giải quyết khiếu nại lần đầu.

Quá trình giải quyết đơn khiếu nại, UBND quận Long Biên đã thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền được quy định tại Điều 18 Luật khiếu nại năm 2011.

Đối với việc khiếu nại Quyết định số 4678/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ chi tiết khi nhà nước thu hồi đất. Do việc khởi kiện của gia đình ông Tương đã được Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý vụ án nên UBND quận Long Biên đã ban hành Thông báo số 450/TB-UBND ngày 03/9/2020 về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại theo quy định tại khoản 9 Điều 11 Luật khiếu nại năm 2011 là có căn cứ và đúng pháp luật.

Đối với Quyết định số 1876/QĐ-UBND ngày 22/4/2011 về việc cưỡng chế thu hồi đất/ Sau khi đã được vận động, thuyết phục, tuyên truyền hộ gia đình, cá nhân nhận tiền và bàn giao mặt bằng để thực hiện dự án nhưng gia đình ông Tương vắng mặt, không nhận tiền bồi thường, không thực hiện việc bàn giao mặt bằng nên UBND quận Long Biên đã ban hành Quyết định số 1876/QĐ-UBND ngày 22/4/2011 về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với hộ gia đình ông Tương là đúng quy định tại khoản 3 Điều 69; khoản 3 Điều 71 Luật đất đai năm 2013.

Đối với yêu cầu UBND quận Long Biên giữ nguyên hiện trạng đất của gia đình ông Tương: Thực hiện các Quyết định của UBND thành phố Hà Nội, Sở Tài nguyên và môi trường; UBND quận Long Biên đã thực hiện việc giao nhận mốc giới dự án phục vụ công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án “Đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đất để đấu giá quyền sử dụng ... đất tại phường Long Biên, trên cơ sở kế hoạch sử dụng đất của UBND quận Long Biên, thì diện tích đất nông nghiệp gia đình ông Trần Văn Toàn đang sử dụng nằm trong chỉ giới giải phóng mặt bằng nên buộc phải thực hiện việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng để bàn giao cho chủ đầu tư dự án nên yêu cầu của gia đình ông Tương giữ nguyên hiện trạng là không có căn cứ.

Do đó tại bản án sơ thẩm đã xác định UBND quận Long Biên ban hành các Quyết định số 4657/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 về việc thu hồi đất; Quyết định số 4678/QĐ- UBND ngày 31/12/2019 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ chi tiết khi nhà nước thu hồi đất; Quyết định số 2171/QĐ-UBND ngày 29/4/2020 của Chủ tịch UBND quận Long Biên về việc giải quyết khiếu nại lần đầu; Quyết định số 1876/QĐ-UBND ngày 22/4/2011 về việc cưỡng chế thu hồi đất là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên đã quyết định bác yêu cầu khởi kiện của ông Tương là đúng. Nay không có thêm tài liệu, chưng cứ gì mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn T.

Kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Án phí phúc thẩm: Do ông Trần Văn T là người cao tuổi nên ông Tương được miễn án phí hành chính phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ khoản 1 Điều 241; khoản 1 Điều 349 Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

QUYẾT ĐỊNH

[1]. Bác kháng cáo của người khởi kiện ông Trần Văn T; giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 276/2021/HC-ST ngày 13và 15/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

[2]. Về án phí: Ông Trần Văn T được miễn án phí hành chính phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Việt Hà

Mai AT

Nguyễn VĐ

Cỡ chữ