- Tranh chấp gì? án hình sự — "tran dinh l - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TP. V TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 368/2022/HS-ST Ngày 30/12/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hà Văn Trường
Ông Đặng Song Hoàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Đậu Thị Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố V.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố V, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 308/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 400/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:
TRẦN ĐÌNH L, sinh năm 1967 tại Hồ Chí Minh;
Hộ khẩu thường trú: 32 đường K, phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Chỗ ở trước khi bị bắt: 78 đường H, phường M, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Bảo vệ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Cha: Trần Văn K (đã chết); Mẹ: Lê Thị Kh (đã chết); Có 03 (bốn) chị em, bị cáo là con út; chung sống không đăng kí kết hôn với bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1967; có 02 con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 2001.
- Tiền án, tiền sự: không.
- Nhân thân:
+ Bản án số 99/HSST ngày 25/11/1987 của Tòa án Đặc khu - V - C xử phạt 06 (sáu) tù tháng nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
+ Quyết định số 316/2019 ngày 15/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố V áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 12 tháng.
- Bị bắt: 08/8/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an thành phố V (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 08/8/2022, tại trước địa chỉ số 111/3 đường X, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Lực lượng phòng chống ma túy và tội phạm Ban chỉ huy Biên phòng Cửa khẩu cảng Bà Rịa - Vũng Tàu bắt quả tang Trần Đình L đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (Methamphetamine) nhằm mục đích sử dụng, đồng thời thu giữ vật chứng và các tài sản liên quan trong vụ án.
Quá trình điều tra, Trần Đình L khai nhận: Bị cáo sử dụng ma túy từ năm 2019 cho đến nay. Do có nhu cầu sử dụng nên ngày 06/8/2022, L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 72L8 - 3799 đến khu vực “gốc cây chôm” đường N, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu mua một gói ma túy đá với giá 700.000 đồng của một người tên Quang (không rõ nhân thân, lai lịch). Sau khi có ma túy, L cất giấu trong người rồi mang về nhà. Khoảng 18 giờ ngày 08/8/2022, L cất giấu ma túy trong người đứng chờ bạn trước số nhà 111/3 đường X, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang như trên (các bút lục điều tra từ số 60 đến số 75).
Tại Bản kết luận giám định số 341/KLGD-KTHS-MT ngày 14/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu kết luận: Mẫu chất kết tinh không màu - trong suốt chứa trong 01 (một) gói nylon hàn kín, được niêm phong trong phong bì màu trắng, có hình dấu của Ban CHBPCKC Bà Rịa – Vũng Tàu, Bộ CHBĐBP tỉnh BR-VT, cùng các chữ ký ghi họ tên: Lê Quý Ngọc, Vũ Văn Định, Nguyễn Văn Lê, “Trần Đình L”, Trần Văn Bảng, gửi đến giám định có khối lượng 1,2238 gam, là ma túy, loại Methamphetamine (bút lục số 34).
* Cơ quan chức năng thu giữ vật chứng và các tài sản gồm:
- 01 gói nylon hàn kín bên trong có chứa chất kết tinh không màu - trong suốt;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu vàng số Imei 358572088962119;
- 01 (một) xe mô tô hiệu Air Blade, màu đỏ, biển kiểm soát 72L8 - 3799, số máy JF27E0063788, số khung 1801AY063250.
* Đối với chiếc xe xe mô tô hiệu Air Blade, màu đỏ, biển kiểm soát 72L8 - 3799, số máy JF27E0063788, số khung 1801AY063250 thu giữ của bị cáo Trần Đình L, L khai nhận mượn chiếc xe của con gái tên Trần Mỹ P, sinh năm 1993; địa chỉ: 32 đường K, phường B, thành phố V, Bà Rịa – Vũng Tàu. Qua làm việc, bà P cho biết xe mô tô trên do ông Nguyễn Thành C, sinh năm 1962, địa chỉ: 459/2 đường T, phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đứng tên sở hữu. Bà P mua lại xe mô tô trên đã lâu nhưng không làm giấy tờ mua bán, người bán chỉ đưa cà vẹt xe cho bà. Bà P cho bố ruột là Trần Đình L mượn xe đi công việc nhưng không biết L dùng xe để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã ra Quyết định trả lại chiếc xe cho bà P.
Số vật chứng và tài sản thu giữ còn lại được cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V chuyển đến Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố V quản lý, chờ xử lý.
Bản cáo trạng số 312/CT-VKS ngày 14/11/2022 Viện kiểm sát nhân dân thành phố V đã truy tố bị cáo Trần Đình L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Đình L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị;
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy là tang vật của vụ án đã qua giám định;
- Trả lại cho bị cáo L 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu vàng số Imei: 358572088962119, do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
- Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, không có ý tranh luận, bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình tiến hành tố tụng đã thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Căn cứ lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa, đối chiếu lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, bản kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Ngày 06/8/2022, do có nhu cầu sử dụng ma túy, L đến khu vực “gốc cây chôm” đường N, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu mua một gói ma túy đá với giá 700.000 đồng của một người tên Quang (không rõ nhân thân, lai lịch). Sau khi có ma túy, L cất giấu trong người rồi mang về nhà. Khoảng 18 giờ ngày 08/8/2022, L cất giấu ma túy trong người đứng chờ bạn trước số nhà 111/3 đường X, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang.
Bản kết luận giám định số 341/KLGD-KTHS-MT ngày 14/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu kết luận: ma túy mà bị cáo L tàng trữ khi bị bắt quả tang có khối lượng 1,2238 gam, là ma túy loại Methamphetamine.
Hành vi của bị cáo Trần Đình L đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo gây ra là nguy hiểm. Bị cáo là người có đủ nhận thức để biết rõ ma túy là chất độc hại, là mầm móng của tội phạm, các tệ nạn xã hội khác phát sinh. Mọi hành vi vi phạm liên quan đến ma túy đều bị pháp luật xử lý rất nghiêm khắc. Nhưng bản thân bị cáo đã lệ thuộc vào chất gây nghiện nên đã thực hiện hành vi phạm tội là tàng trữ ma túy để sử dụng. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp, tương xứng với hành vi, mức độ phạm tội và nhân thân nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo, đồng thời bảo đảm phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Tuy không có tình tiết tăng nặng nhưng bị cáo đã từng bị kết án về tội “Gây rối trật tự công cộng” và đã đi cai nghiện bắt buộc 12 (mười hai) tháng vào năm 2019 nhưng không lấy đó làm bài học để tu sửa bản thân, trở thành người có ích cho bản thân, gia đình và xã hội mà tiếp tục phạm tội. Thể hiện bị cáo chưa quyết tâm, quyết liệt để hoàn lương. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi, mức độ, hậu quả phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và bảo đảm phòng ngừa tội phạm chung.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý vật chứng của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận, cụ thể:
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy là tang vật của vụ án đã qua giám định;
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu vàng số Imei: 358572088962119, do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Đình L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự,
Xử phạt: Trần Đình L 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/8/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy là tang vật của vụ án đã qua giám định niêm phong số 341/KLGĐ-PTHS-MT ngày 14/8/2022.
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu vàng số Imei 358572088962119.
Thực hiện xử lý vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 43/BB.CCTHADS ngày 16/11/2002 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố V.
3. Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Công an tỉnh BR–VT (PV06, PC10); - VKSND thành phố V; - Công an thành phố V; - Chi cục THADS thành phố V; - Nhà tạm giữ Công an thành phố V; - Bị cáo; - Lưu: Văn thư, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Huyền |