vanban.org

Bản án 368/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Tuyết Nh.

Về hôn nhân: Bà Lê Thị Tuyết Nh được ly hôn với ông Trần Chí L. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 35 ngày 11/4/2016 của Ủy ban dân xã Khánh H, huyện CP, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Tuyết Nh.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 368/2022/HNGĐ - ST
Ngày: 07 - 9 - 2022
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CP, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lý Khắc Chung;

Bà Nguyễn Thị Thu Sương.

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Trân - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện CP, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CPtham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CPxét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 128/2022/TLST - HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 232/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Tuyết Nh, sinh năm 1979. (Xin vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp Khánh Th, xã Khánh H, huyện CP, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Ông Trần Chí L, sinh năm 1991. (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp Khánh Ch, xã Khánh H, huyện CP, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 25/02/2022 và trong quá trình xét xử nguyên đơn bà Lê Thị Tuyết Nh trình bày: Bà và ông L chung sống năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Khánh H, huyện CP. Sau khi cưới cuộc sống ban đầu hạnh phúc một thời gian, sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vả nhau, vợ chồng đã ly thân từ tháng 8/2017 đến nay. Nay không còn tình cảm nên bà Nh yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông L. Con chung có 01 con chung tên Trần Chí Tr, sinh ngày 13/4/2016 hiện đang sống với ông L, ly hôn bà Nh giao con chung cho ông L tiếp tục nuôi, bà Nh không cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung, nợ chung: không có.

Đối với bị đơn ông Trần Chí L, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng ông L vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông L.

Bà Nh có đơn xin xét xử vắng mặt.

Ông L vắng mặt tại phiên tòa.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện CP phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biều ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa thấy rằng hôn nhân của bà Nh và ông L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà Nh yêu cầu ly hôn với ông L là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Trần Chí Tr, sinh ngày 13/4/2016 hiện đang sống với ông L. Cháu Tr đang ở với ông L ổn định nên đề nghị giao cháu Tr cho ông L được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Nh không cấp dưỡng nuôi con chung, ông L không có ý kiến nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung: Không có, nên đề nghị không xem xét.

- Về nợ chung: Không có, nên đề nghị không xem xét.

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết đúng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Ông Trần Chí L có hộ khẩu thường trú tại xã Khánh H, huyện CP, tỉnh An Giang. Bà Nh khởi kiện xin ly hôn, Tòa án nhân dân huyện CPthụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Nguyên đơn bà Lê Thị Tuyết Nh có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Trần Chí L đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án:

- Về hôn nhân: Bà Nh và ông L chung sống với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Khánh H, huyện CP, tỉnh An Giang nên được pháp luật công nhận là vợ chồng và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8; khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Sau khi kết hôn ông bà có cuộc sống hạnh phúc được một thời gian, nhưng thời gian sau xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường hay cải vả và phát sinh Nhều mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, vợ chồng đã ly thân từ tháng 8/2017 đến nay. Hiện nay tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà Nh xin ly hôn với ông L. Quá trình giải quyết vụ án bà Nh kiên quyết xin ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy bà Nh đã kiên quyết ly hôn, Tòa án đã hòa giải cho ông bà đoàn tụ nhưng ông L đều vắng mặt, đồng thời thời gian ly thân từ năm 2017 đến nay là một khoảng thời gian dài nhưng cả hai đều không có thiện chí hàn gắn quan hệ vợ chồng. Vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nh.

- Về con chung: Bà Nh và ông L chung sống có 01 con chung tên Trần Chí Tr, sinh ngày 13/4/2016 hiện đang sống với ông L. Xét, từ khi ly thân đến nay cháu Tr do ông L chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định. Do đó, để đảm bảo cuộc sống của con chung, bà Nh đồng ý giao cháu Tr cho ông L tiếp tục nuôi dưỡng, nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Trần Chí Tr, sinh ngày 13/4/2016 cho ông L được trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Nh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; quyền nuôi con là không cố định. Vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc cả hai, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nh không cấp dưỡng nuôi con chung, ông L không ý kiến về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí:

Bà Nh phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẻ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 27 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Tuyết Nh.

Về hôn nhân: Bà Lê Thị Tuyết Nh được ly hôn với ông Trần Chí L.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 35 ngày 11/4/2016 của Ủy ban dân xã Khánh H, huyện CP, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

Về con chung: Giao con chung tên Trần Chí Tr, sinh ngày 13/4/2016 cho ông Trần Chí L được trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Nh không phải cấp dưỡng nuôi con chung, ông Tr không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ông Trần Chí L cùng với các thành viên trong gia đình không được cản trở bà Nh trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha mẹ, hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét

Về án phí: Bà Lê Thị Tuyết Nh phải chi ̣u 300.000đ (Ba trăm nghin đồng)

̀ án phi Hôn nhân và gia đình sơ thẩm được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghin

́

̀ đồng) ta ̣m ứ ng án phi đa nô ̣̃ p theo biên lai thu số 0003606 ngày 30 tháng 3 năm

́ 2022 của Cu ̣c thi hành án dân sự huyện CP.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ