vanban.org

Bản án 367/2022/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 15/08/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/08/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận Quyết định Kháng nghị của số 06/QĐKNPT-VKS-DS ngày 23/12/2019 của Viện trưởng Viện ki m sát nhân dân t nh Đ ng Tháp.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Võ Kim Đ; Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Võ Thị Cẩm Phúc, ông Lê Văn M, anh Lê Văn Đ và ông Võ Thành C. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "tranh chấp quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận Quyết định Kháng nghị của số 06/QĐKNPT-VKS-DS ngày 23/12/2019 của Viện trưởng Viện ki m sát nhân dân t nh Đ ng Tháp.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NH N D N
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 367/2022/DS-PT
Ngày: 15 – 8 – 2022
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NH N D N TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguy n Ng c V ng.

Các Thẩm phán:

Ông Nguy n Tấn Tặng;

Ông Sỹ Danh Đ t.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ph m Thị Ng c Hà - Thư ký Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp.

- Đại diện Viện Ki m sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Nguy n Ng c Trang - Ki m sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 15/8/2022, t i trụ sở Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 98/2020/TLPT- DS ngày 12/02/2020 về việc “Tranh chấp dân sự - Quyền sử dụng đất”

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 91/2019/DS-ST ngày 26 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố C bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 252/2022/QĐ-PT ngày 20 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Võ Kim Đ, sinh năm 1952; địa ch : đường P, Tổ N, khóm M, phường P, TP. C, Đ ng Tháp.

Đ i diện theo ủy quyền của bà Võ Kim Đ là ông Võ Minh V, sinh năm 1972; địa ch : đường D, Khóm M, Phường N, TP. C, Đ ng Tháp (Theo văn bản ủy quyền ngày 28/4/2020) - (Có m t).

Người bảo vệ quyền và l i ch h p pháp của nguyên đơn bà Võ Kim Đ là Luật sư Mai T – Công ty luật TNHH MTV T, thuộc Đoàn luật sư t nh Đ ng Tháp; địa ch : phường P, thành phố C, Đ ng Tháp.

2. Bị đơn:

2.1. Bà Võ Thị Cẩm P, sinh năm 1964;

2.2. Ông Võ Thành C, sinh năm 1972;

Cùng địa ch : Tổ N, khóm M, phường P, TP. C, Đ ng Tháp.

Đ i diện theo ủy quyền của bà Võ Thị Cẩm P, ông Võ Thành C là anh Nguy n Tuấn A, sinh năm 1987; địa ch : khóm B, thị trấn L, huyện V, Đ ng Tháp (Theo văn bản ủy quyền ngày 24/4/2020 và 04/5/2021) -(Có m t).

Người bảo vệ quyền và l i ch h p pháp của bị đơn bà Võ Thị Cẩm P là Luật sư Nguy n Văn H – Văn phòng luật sư H, thuộc Đoàn luật sư t nh Đ ng Tháp;

3. Người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Lê Văn M, sinh năm 1967;

3.2. Anh Lê Văn Đ, sinh năm 1990;

Cùng địa ch : Tổ N, khóm M, phường P, TP. C, Đ ng Tháp.

Đ i diện theo ủy quyền của ông Lê Văn M, anh Lê Văn Đ là anh Nguy n Tuấn A, sinh năm 1987; địa ch : khóm B, thị trấn L, huyện V, Đ ng Tháp (Theo văn bản ủy quyền ngày 24/4/2020).

3.3. Anh Nguy n Thanh B, sinh năm 1987;

3.4. Chị Nguy n Thị Thu V, sinh năm 1980;

Cùng địa ch : K, Tổ N, khóm M, phường P, TP. C, Đ ng Tháp.

Đ i diện theo ủy quyền của anh Nguy n Thanh B, chị Nguy n Thị Thu V là ông Võ Minh V, sinh năm 1972; địa ch : đường D, Khóm M, Phường N, TP. C, Đ ng Tháp (Theo văn bản ủy quyền ngày 28/4/2020).

3.5. Ủy ban nhân dân thành phố C;

Người đ i diện theo pháp luật là ông Võ Phan Thành M, Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C. (Có đơn xin xét xử vắng m t)

Địa ch : đường B, Phường M, TP. C, Đ ng Tháp.

4. Người kháng cáo: Bà Võ Kim Đ, bà Võ Thị Cẩm P, ông Võ Thành C, ông Lê Văn M, anh Lê Văn Đ (là nguyên đơn, các bị đơn và những người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan trong vụ án).

5. Người kháng nghị: Viện trưởng Viện ki m sát nhân dân t nh Đ ng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Bà Võ Kim Đ trình bày: Ngu n gốc đất tranh chấp là của ông N giao cho Võ Văn N quản lý từ năm 1960, khi đó bà Đ sống cùng với ông N (là cha bà Đ). Từ năm 1975 bà Đ đã quản lý sử dụng đến năm 1993 do ông N lớn tuổi nên giao luôn cho bà Đ sử dụng thửa 1142, tờ bản đ số 03, diện t ch 270m2, t a l c t i ấp 4, xã T, thành phố C, có tứ cận như sau: một c nh giáp thửa 1141 (nay là thửa 457) tờ bản đ số 20 của ông Võ Thành T, một c nh giáp thửa 1143 của bà Đ sở hữu, 02 c nh còn l i giáp mương c n và sông. Vào khoảng năm 2000 bà Đ có cho ông Võ Văn D (sinh năm 1930, đã chết năm 2015) mư n một phần đất thửa số 1142 nói trên đ cất nhà cho con gái là bà Võ Thị Cẩm P ở t m, khi mư n có thỏa thuận miệng là khi bà Đ có yêu cầu trả đất thì phải di dời nhà, tài sản, vật kiến trúc trên phần đất này mà không đư c hỗ tr gì.

Năm 2013, khi thực hiện việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa 1142 thì bà Đ đư c biết bà P đã đi đăng ký và đư c UBND thị xã C (nay là thành phố C) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà P với diện t ch 222,2m2, thuộc thửa 458, tờ bản đ số 20, t a l c t i tổ 55, khóm M, phường P, thành phố C. Việc UBND thành phố C cấp thửa 458 cho bà P là cấp trùng lên thửa đất số 1142 của bà Đ. Thửa 1142 của bà Đ đã đư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 1993. H sơ cấp quyền sử dụng đất của bà P cho thấy việc cấp giấy không đúng theo quy định của pháp luật đất đai như: Không tr ch lục ngu n gốc đất, bà Đ là chủ sử dụng đất liền kề nhưng không có ký giáp ranh, giữa thông báo và biên bản công khai h sơ xin cấp đất lần đầu đư c làm cùng một ngày, Hội đ ng xét duyệt cấp đất ch có Chủ tịch xã và công chức địa ch nh xã…

Theo kết quả thẩm định tài chỗ thì phần đất tranh chấp có diện t ch tổng cộng là 327,1m2; Trong đó, ông C quản lý 66,4m2 và bà Võ Thị Cẩm P, ông Lê Văn M và anh Lê Văn Đ đang sử dụng diện t ch 260,7m2 là đất của bà Đ.

Nay bà Đ yêu cầu:

Hộ bà Võ Thị Cẩm P g m bà Võ Thị Cẩm P, ông Lê Văn M và anh Lê Văn Đ giao trả cho bà Đ diện t ch 260,7m2 thửa đất số 458, tờ bản đ số 20, đất t a l c t i phường P, thành phố C, t nh Đ ng Tháp và di dời toàn bộ tài sản, vật kiến trúc trên thửa đất này.

Hộ bà Võ Thị Cẩm P g m bà Võ Thị Cẩm P, ông Lê Văn M và anh Lê Văn Đ và ông Võ Thành C giao trả cho bà Đ diện t ch 66,4m2 thửa đất thửa 760, tờ bản đ số 20, đất t a l c t i phường P, thành phố C; Đ ng thời phải di dời toàn bộ tài sản, vật kiến trúc trên thửa đất này.

- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 458, tờ bản đ số 20, diện t ch 222,2m2 t a l c t i phường P, thành phố C do UBND thành phố C cấp ngày 23/12/2004 cho bà Võ Thị Cẩm P.

- Bà Võ Thị Cẩm P trình bày: Bà P không đ ng ý với yêu cầu của nguyên đơn do phần đất tranh chấp là cha mẹ bà P cho. Do đất của ông bà của đ l i, khi bà P đăng ký kê khai thì không ai tranh chấp. Khi cha, mẹ cho bà P có giấy tay và các anh em trong nhà cùng ký, khi đi kê khai quyền sử dụng đất thì có sử dụng giấy tay đó làm căn cứ kê khai. Ngu n gốc đất là do ông nội cho cha bà P, khi ông nội cho cha bà thì không có giấy tờ. Năm 1990, bà P đư c ông Võ Văn D và bà Ph m Thị L (là Cha, mẹ) cho phần đất hiện đang tranh chấp. Năm 1992, bà cất 01 căn nhà t m. Năm 1999, cất nhà ch nh như hiện nay. Năm 2002, đi đăng ký kê khai quyền sử đụng đất, năm 2004 đư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện t ch 222,2m2 đến năm 2016 thì xây l i nhà như hiện nay.

Phần đất tranh chấp trong quá trình sử dụng bà đã tiến hành b i đắp nhiều lần mới bằng mặt đường như hiện tr ng hiện nay. Hiện tr ng đư c b i đắp cao hơn khoảng 1,4m so với ban đầu. Nếu buộc hộ bà P phải di dời nhà và trả đất cho phía bà Đ thì bà P không có yêu cầu b i thường thiệt h i cho bà.

- Ông Nguyễn Thanh B và bà Nguyễn Thị Thu V trình bày: Thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn.

- Ông Lê Văn M và ông Lê Văn trình bày: Thống nhất với lời trình bày của bị đơn.

- Ông Võ Thành C trình bày: Ngu n gốc đất là của ông Võ Văn N cho cho ông Võ Văn D sau đó ông D cho l i ông C diện đất tranh chấp vào năm 1990, khi cho không có giấy tờ. Phần đất này ông C sử dụng từ năm 1990 đến nay, trước đây thì đ trống đến năm 2012 thì mới b i đắp tr ng cây như hiện nay, tiền công b i đắp là 12.000.000đ, về chứng cứ khi b i đắp thì mướn người chở đất nhưng đã quá lâu nên cũng không nhớ là mướn ai nên nay ông C không có chứng cứ đ cung cấp. Phần đất tranh chấp đến nay ông C chưa đăng ký quyền sử dụng đất và ngoài ông C thì không còn ai sử dụng. Nay ông C không đ ng ý trả đất theo yêu cầu của bà Đ và không yêu cầu trả tiền công b i đắp với số tiền là 12.000.000đ.

T i Bản án dân sự sơ thẩm số: 91/2019/DS-ST ngày 26 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố C quyết định:

Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn;

Buộc hộ bà P g m: Bà Võ Thị Cẩm P, ông Lê Văn M, anh Lê Văn Đ và ông Võ Thành C phải giao cho bà Võ Kim Đ diện t ch đất 66,4m2 trong ph m vi các mốc D, 8, C, 5, 6, 7, E đến mốc D, t i thửa số thửa 760, tờ bản đ số 20, đất t i khóm M, phường P, TP. C.

Buộc hộ bà P g m: Bà Võ Thị Cẩm P, ông Lê Văn M, anh Lê Văn Đ và ông Võ Thành C di dời toàn bộ tài sản, cây tr ng ra khỏi diện t ch đất nói trên đ giao đất cho bà Đ theo quy định pháp luật.

Hộ bà P g m: Bà Võ Thị Cẩm P, ông Lê Văn M, anh Lê Văn Đ đư c sử dụng diện t ch đất 260,7m2 trong ph m vi các mốc A, B, 1, 2, 3, 4, 5, C, 8, D đến mốc A t i thửa số 458, tờ bản đ số 20, đất t i khóm M, phường P, TP. C.

(Theo sơ đ đo đ c ngày 12/4/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C).

Hộ bà P và bà Đ đư c đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều ch nh và đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.

Buộc hộ bà P g m: Bà Võ Thị Cẩm P, ông Lê Văn M, anh Lê Văn Đ có nghĩa vụ trả cho bà Võ Kim Đ giá trị đất với số tiền là 156.420.000 (Một trăm năm mươi sáu triệu bốn trăm hai mươi nghìn) đ ng.

K từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường h p cơ quan thi hành án có quyền chủ động quyết định thi hành án) hoặc k từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người đư c thi hành án án (đối với các khoản tiền phải trả cho người đư c thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định t i khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

Án ph dân sự sơ thẩm:

Bà Võ Thị Cẩm P, ông Lê Văn M và anh Lê Văn Đ phải có nghĩa vụ liên đới nộp 7.821.000 đ ng.

Ông Võ Thành C phải nộp 1.992.000 đ ng.

Bà Võ Kim Đ không phải chịu tiền án ph .

Về chi ph tố tụng là chi xem xét, thẩm định t i chỗ và định giá tài sản: Bà Võ Thị Cẩm P, ông Lê Văn M, anh Lê Văn Đ và ông Võ Thành C phải có nghĩa vụ liên đới nộp số tiền 3.367.000đ. Bà Võ Kim Đ đư c nhận l i số tiền này.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền và thời h n kháng cáo của các đương sự, quyền và nghĩa vụ của người đư c thi hành án, người phải thi hành án, thời hiệu thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Võ Kim Đ kháng cáo yêu cầu bà Võ Thị Cẩm P, ông Lê Văn M, anh Lê Văn Đ và ông Võ Thành C trả đất và không đ ng ý về giá đất.

Bà Võ Thị Cẩm P, ông Lê Văn M, anh Lê Văn Đ và kháng cáo không đ ng ý trả giá trị đất và ông Võ Thành C kháng cáo không đ ng ý trả đất.

- T i phiên tòa phúc thẩm:

Ông Võ Minh V trình bày: Bà Đ yêu cầu bà P và ông C trả đất, các đương sự không thỏa thuận đư c với nhau về giải quyết vụ án.

Ông Nguy n Tuấn A trình bày: Bà P không đ ng ý trả giá trị đất cho bà Đ, vì bà không có mư n đất của bà Đ mà ngu n gốc đất là của cụ D cho bà P. Đối với kháng cáo của ông C là không đ ng ý quyết định của bản án sơ thẩm buộc trả đất cho bà Đ, vì ngu n gốc đất của cụ D cho ông C sử dụng từ năm 1990. Đ ng thời ch yêu cầu không chấp nhận khởi kiện của bà Đ, không yêu cầu xét công nhận QSDĐ cho bà P, ông C.

- Đ i diện Viện ki m sát nhân dân t nh Đ ng Tháp phát bi u ý kiến về giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đ ng xét xử, Thư ký và các đương sự đều thực hiện đúng quy định của pháp luật

Về nội dung:

Ngu n gốc đất là của cụ N (ông nội của bà Đ, bà P, ông C), cụ N đã phân chia đất cho các con nhưng không có giấy tờ nên không xác định đư c vị tr cụ th .

Bà Đ cho rằng diện t ch đất 251,1m2 đã cấp giấy chứng nhận cho bà Đ; giấy chứng nhận cấp cho bà P là trùng QSDĐ của bà Đ. Tuy nhiên việc cấp giấy chứng nhận cho bà P có tờ xác nhận của cụ D và các anh chị em bà P ngày 12/11/2002, th hiện đất do cụ D cho bà P năm 1990 và có xác nhận của ch nh quyền địa phương. Bảng kê khai ngu n gốc đất của bà P có ông D, ông T là người tiếp cận ranh đất ký tên đư c ch nh quyền địa phương xác nhận ngày 19/10/2004. Công văn số 78 ngày 17/01/2019 của Ủy ban nhân dân thành phố C ý kiến việc cấp giấy chứng nhận cho bà P là đúng trình tự thủ tục. Công văn số 796 ngày 28/10/2019 và số 269 của Chi nhánh VPĐKĐĐ thành phố C xác nhận thửa 458 tương ứng thửa1140 của bản đ giải thửa; 1142, 1143 cấp QSDĐ cho bà Đ khi cấp đổi giấy chứng nhận thành thửa 459, nên bà Đ cho rằng cấp giấy chứng nhận trùng thửa đất là không có cơ sở. T i biên bản hòa giải của phường P ngày 07/7/2017, bà Đ thừa nhận bà làm thủ tục cấp đổi giấy thì bỏ phần đất có nhà của bà P và con đường đi xuống sông khoản 2m giáp đất căn nhà bà P. Bà Đ không cung cấp đư c chứng cứ ngăn cản bà P xây dựng nhà, công trình phụ. Vì vậy án sơ thẩm buộc bà P trả giá trị đất là không có căn cứ.

Đối với diện t ch 9,6m2 và 66,4m2 chưa đư c cấp giấy chứng nhận: Thửa 458 của bà P là giáp với đất của cụ D. Bà Đ không có quản lý đất này nên yêu cầu trả đất là không có cơ sở. Thực tế đây là lối đi 66,4m2 có trụ đá ranh, đ ng thời theo trình bày của ông Việt thì lối đi dùng cho những người có nhà ở ph a trên bờ sông đ đi l i. Do đó đề nghị chấp nhận Kháng nghị của Viện trưởng Viện ki m sát nhân dân t nh Đ ng Tháp; không chấp nhận kháng cáo của Bà Đ; chấp nhận kháng cáo của bà P và ông C; sửa bản án sơ thẩm. Không chấp nhận yêu cầu của bà Đ. Về án ph phúc thẩm xem xét theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong h sơ vụ án đã đư c thẩm tra t i phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng t i phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bà Đ khởi kiện yêu cầu bà P, ông C trả đất, Tòa án nhân dân thành phố C thụ lý giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm là đúng quy định. Bà Đ, bà P, ông C làm đơn kháng cáo h p lệ. Bà Đ ủy quyền cho ông Võ Minh V; bà P, ông C ủy quyền cho ông Nguy n Tuấn A thủ tục đúng quy định nên chấp nhận.

Bà Đ yêu cầu bà P trả diện t ch đất đo đ c thực tế là 251,1m2 thửa số 458 tờ bản đ số 20, giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho bà P ngày 13/12/2004 (diện t ch cấp giấy chứng nhận 222,2m2) và diện t ch đất 9,6m2 chưa đư c cấp giấy chứng nhận; yêu cầu ông C trả diện t ch đất 66,4m2 thửa 760 tờ bản đ số 20 chưa đư c cấp giấy chứng nhận; đất t i phường P, thành phố C, ĐT.

ét đối với diện t ch đất tranh chấp 251,1m2: Ông V và ông Tuấn A đều thừa nhận ngu n gốc đất là của cụ N là cha của cụ N (cha bà Đ), cụ D (cha bà P, ông C). Trước đây, cụ N đã phân chia đất cho các con g m cụ N, cụ C, cụ D (tất cả đều chết) nhưng không có lập thành văn bản, không có biên bản đo đ c thực tế và cụ N, cụ D đã nhận đất sử dụng. Nay bà Đ cho rằng, diện t ch 251,1m2 là của cụ N đư c chia từ năm 1960 và bà Đ quản lý sử dụng cùng với cụ N từ năm 1975, đến năm 1993 thì cụ N đã cho bà diện t ch này, sau đó vào khoảng năm 2000 bà cho cụ D mư n đất cất nhà cho bà P ở t m. Tuy nhiên, bà Đ không cung cấp đư c tài liệu chứng cứ chứng minh cụ N chia phần đất tranh chấp cho cụ N. Bà Đ khai diện t ch 251,1m2 thuộc một phần thửa 1142 đã đư c cấp giấy chứng nhận cho bà Đ vào ngày 08/6/1993, nên việc cấp giấy chứng nhận cho bà P thửa 458 là cấp trùng thửa 1142 của bà Đ là không có cơ sở. Vì theo Công văn số 796 ngày 28/10/2019 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C, xác định thửa đất số 458 tờ bản đ số 20 cấp giấy chứng nhận cho bà P ngày 13/12/2004 tương ứng thửa 1140 tờ bản đ số 03. Đ ng thời theo h sơ đăng ký QSDĐ của bà P th hiện cụ D và các anh em của bà P lập tờ xác nhận (ngày 12/11/2002) ngu n gốc đất là của cụ D cho bà P, đư c ch nh quyền địa phương xác nhận nội dung đơn này và đất không có tranh chấp. T i bảng kê khai ngu n gốc đất của bà P cũng ghi nhận đất là của cụ D cho bà N vào năm 1990, bảng kê khai có cụ D và ông T ký tên với tư cách là người tiếp cận ranh đất và đư c ch nh quyền địa phương xác nhận ngày 19/10/2004. Trong khi đó bà Đ không có tài liệu chứng cứ chứng minh đã kê khai diện t ch 251,1m2. Theo Công văn số 78 ngày 17/01/2019 của Ủy ban nhân dân thành phố C xác định thủ tục cấp giấy chứng nhận cho bà P thực đúng trình tự theo quy định.

Trên thực tế, ngu n gốc đất là của cụ N đ l i do cụ D quản lý sử dụng và cho l i bà P đ cất nhà ở và cất l i nhà cấp 4 kiên cố vào năm 1999, xây tường rào kiên cố vào năm 2006 thì bà Đ hoàn toàn không có ý kiến tranh chấp hoặc báo ch nh quyền địa phương ngăn cản. Bà P sử dụng đất ổn định liên tục từ năm 1990 đã đư c cấp giấy chứng nhận QSDĐ theo quy định của pháp luật. Vì vậy, bà Đ yêu cầu trả đất là không có căn cứ đ chấp nhận; bà P kháng cáo không đ ng ý trả giá trị đất là có cơ sở.

ét đối với diện t ch 6,6m2: Thực tế là một phần đất sân trước nhà bà P đã sử dụng từ khi quản lý đất và nằm trong phần tường rào khu vực đất nhà ở của bà P. Do đó, bà Đ cho rằng đất của bà là không có cơ sơ nên không chấp chấp.

3 ét đối với diện t ch đất 66,4m2: Ông Tuấn A trình bày ngu n gốc đất là của cụ N đ l i cho cụ D là có cơ sở. Bởi vì, cụ N đã chia đất cho cụ N, cụ C vị tr giáp mé sông (cụ C không có con nên đ đất l i cho ông T sử dụng). Đối với cụ D đư c chia đất ph a trên đường K vì vậy cụ D mới đư c chia một phần diện t ch giáp mé sông đ thuận tiện đi l i xuống bờ sông và trước đây ông C làm nghề đan mê b nên sử dụng diện t ch 66,4m2 làm lối đi vận chuy n hàng từ nhà xuống sông. Vào khoảng năm 2012, ông C không còn sử dụng đất làm lối đi nên bà P tr ng cây ăn trái cho đến nay.

Nhân chứng của bà Đ trình bày: Ông Dương Văn D xác nhận vào khoảng năm 1965, ông có đến gặp cụ C, cụ D đ xin cất nhà ở nhờ trên phần đất giáp đất của ông C, nhưng hai ông đều nói là đất của cụ N nên cụ N mới là người cho ông D mư n đất cất nhà ở nhờ (bút lục 34). Ông Trương văn M (sinh năm 1940) xác nhận vào năm 15 tuổi, ông M có sống chung với bà ngo i của ông (bà ngo i của ông M là mẹ v cụ N) liên tục 19 năm. Do bà ngo i của ông M ăn trầu nên ông có đắp cái nền đất đ tr ng trầu giáp đất của cụ C, khi bà ngo i của ông M chết thì các dây trầu cũng chết. Sau đó ông D mư n đất và cất nhà trên phần đất nền tr ng trầu. Vậy theo lời khai của ông M thì trầu đư c tr ng trong thời gian từ năm 1955 đến năm 1974 mới giao đất l i cho ông D cất nhà ở, trong khi đó ông D cho rằng ông mư n đất cất nhà ở vào năm 1965. Do đó lời khai nhân chứng là mâu thuẩn nhau và T i phiên tòa ông V không cung cấp đư c chứng cứ chứng minh cụ N chia đất cho cụ N vào năm 1960 (cụ N chết 1978, cụ Tất v cụ N chết 1976), nên thời đi m năm 1965 thì cụ N v n còn quản lý đất.

T i biên bản lấy lời khai của các ông Nguy n Văn V (bút lục 312), ông Lê Văn T (bút lục 310) ông HuỳnhThanh D (bút lục 212), ông Ph m Hữu P (bút lục 214) xác nhận phần đất 66,4m2 trước đây là lối đi của những người có đất ph a trên đường K đ đi l i xuống sông. Như vậy cho thấy phần đất là của cụ D đư c cụ N cho sau đó cho l i ông C là phù h p với thực tế và đất của bà Đ trực tiếp giáp mé sông nên không có sử dụng lối đi này. Mặt khác, t i biên bản hòa giải của Phường P ngày 07/7/2017 bà Đ khai khi làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận vào năm 2013 thì bà đã bỏ phần đất có căn nhà bà P và phần đất lối đi 2m đã th hiện ý ch của bà Đ cũng xác nhận đất tranh chấp là lối đi của ông C. Vì vậy, bà Đ yêu cầu trả đất là không có cơ sở; Tuy nhiên t i phiên tòa phúc thẩm ông Tuấn A thống nhất việc bác yêu cầu của bà Đ chưa yêu cầu công nhận cho ông C hay là bà P đư c QSDĐ, nên việc sử dụng đất của đương sự s thực hiện quyền, nghĩa vụ đăng ký cấp QSDĐ theo quy định của pháp luật.

4 Đ i diện viện ki m sát T nh đề nghị chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện ki m sát T nh, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Định, chấp nhận kháng cáo của bà P và ông C, sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu của bà Đ là có cơ sở nên chấp nhận.

Do đó chấp nhận Kháng nghị của Viện trưởng Viện ki m sát T nh, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Đ, chấp nhận kháng cáo của bà P và ông C, sửa bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của bà Đ. Các phần khác không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Án ph : Bà Đ phải chịu tiền án ph dân sự sơ thẩm, phúc thẩm nhưng là người cao tuổi có đơn xin mi n tiền án ph nên chấp nhận.

Bà P, ông C không phải chịu tiền án ph dân sự phúc thẩm.

6 Chi ph xem xét thẩm định t i chỗ và định giá tài sản: Bà Đ phải chịu số tiền là 3.367.000đ và chi ph định giá cấp phúc thẩm là 500.000đ (đã nộp và chi xong).

Vì các l trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 148, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 12, 26, 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án ph , lệ ph .

1. Chấp nhận Quyết định Kháng nghị của số 06/QĐKNPT-VKS-DS ngày 23/12/2019 của Viện trưởng Viện ki m sát nhân dân t nh Đ ng Tháp.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Võ Kim Đ;

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Võ Thị Cẩm Phúc, ông Lê Văn M, anh Lê Văn Đ và ông Võ Thành C.

Sửa bản án dân sự sơ thẩm.

2. Không chấp nhận yêu cầu của bà Võ Kim Đ về việc yêu cầu các đương sự trả đất như sau:

Hộ bà Võ Thị Cẩm P (các thành viên trong hộ g m: Bà Võ Thị Cẩm P, ông Lê Văn M, anh Lê Văn Đ) trả diện t ch đất đo đ c thực tế là 251,1m2 thửa số 458 tờ bản đ số 20, giấy chứng nhận cấp cho hộ bà P ngày 13/12/2004 (diện t ch cấp giấy chứng nhận 222,2m2) và diện t ch đất 9,6m2 (chưa đư c cấp giấy chứng nhận); đất t i phường P, thành phố C, t nh Đ ng Tháp.

Hộ bà Võ Thị Cẩm P (các thành viên trong hộ g m: Bà Võ Thị Cẩm P, ông Lê Văn M, anh Lê Văn Đ) và ông Võ Thành C di dời tài sản, cây tr ng trả diện t ch đất 66,4m2 thửa 760 tờ bản đ số 20 (chưa đư c cấp giấy chứng nhận); đất t i phường P, thành phố C, t nh Đ ng Tháp.

(k m sơ đ đo đ c ngày 12/4/2018)

Đương sự đư c đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đ đăng ký cấp quyền sử đất, điều ch nh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

3. Về án ph :

Mi n tiền án ph dân sự sơ thẩm và phúc thẩm cho bà Võ Kim Đ.

Bà Võ Thị Cẩm P, ông Lê Văn M, anh Lê Văn Đ và ông Võ Thành C không phải chịu tiền án ph dân sự phúc thẩm và mỗi người đư c nhận l i tiền t m ứng án ph 300.000đ theo các biên lai thu số 0007971, số 0007972, số 0007973, số 0007974 cùng ngày 12/12/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố C, t nh Đ ng tháp.

4. Chi ph xem xét thẩm định t i chỗ và định giá tài sản: Bà Võ Kim Đ phải chịu số tiền 3.867.000đ (đã nộp và chi xong).

Trường h p bản án đư c thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người đư c thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định t i Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ