- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Minh Đức - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 367/2020/HS-ST Ngày: 07/9/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Loan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Khắc Mã
Ông Phạm Đức Long
- Thư ký phiên tòa: Bà Ma Thị Huyền Nhung – Thư ký TAND thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Thái Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 9 năm 2020, tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 371/2020/TLST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 386/2020/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Minh Đ, sinh năm 1988 tại tỉnh Thái Nguyên; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT: Tổ 5, phường CG, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Quang Tiến, sinh năm 1954; Con bà: Lê Thị Vững, sinh năm 1956; Vợ: Nguyễn Thị Thảo, sinh năm 1989; có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/5/2020 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên (có mặt tại phiên tòa).
Người chứng kiến:
- Ông Vũ Đức H, sinh năm 1959; ĐKHKTT: Tổ 9, phường CG, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 30 phút ngày 22/5/2010, tổ công tác của Công an phường CG, thành phố TN phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Thái Nguyên tuần tra, kiểm soát tại khu vực tổ 5, phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên thì phát hiện Trần Minh Đ có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Khi tổ công tác yêu cầu kiểm tra, Trần Minh Đ tự giác lấy từ trong túi áo bên trái Đức đang mặc 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng, khai đó là ma túy loại heroine và giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng đối với Trần Minh Đ theo quy định.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng trong gói giấy bạc màu vàng thu giữ của Trần Minh Đ có khối lượng 0,164 gam. Tại Kết luận giám định số K3109/C09-TT2 ngày 29/5/2020 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an, kết luận: Mẫu chất bột màu trắng – hồng trong phong bì ký hiệu D gửi giám định là ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,164 gam.
Tại cơ quan điều tra, Trần Minh Đ khai nhận: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 22/5/2020 Đức đi bộ từ nhà ở tổ 5, phường CG, thành phố TN đến khu vực bệnh viện Gang Thép để mua ma túy sử dụng. Đức gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói heroine được gói bằng giấy bạc màu trắng với giá 50.000 đồng. Sau khi mua xong, Đức cất gói heroine vào túi áo ngực bên trái đi tìm chỗ sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang, nên Đức đã giao nộp gói heroine trên cho lực lượng Công an đang làm nhiệm vụ.
Vật chứng của vụ án: 01 bì niêm phong số 3109/C09-TT2 bên trong chứa ma túy Heroine (mẫu hoàn lại sau giám định).
Tại bản cáo trạng số 361/ CT-VKSTPTN ngày 04/8/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Trần Minh Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Trong phần tranh tụng, bị cáo không có ý kiến gì về bản cáo trạng, và đã khai báo thành khẩn diễn biến, hành vi, mục đích phạm tội của mình.
Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên luận tội, đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; xử phạt bị cáo Trần Minh Đ từ 18 đến 24 tháng tù giam; Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong số 3109/C09-TT2 bên trong chứa Heroine (mẫu hoàn lại sau giám định), và buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Bị cáo nói lời sau cùng, có thái độ ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử cho được hưởng mức án thấp nhất.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan toàn bộ các chứng cứ, ý kiến đề nghị của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về các thủ tục, trình tự tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Trên cơ sở đánh giá các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và xem xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật bị tạm giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến, vật chứng của vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xem xét về hành vi của bị cáo thấy rằng có cơ sở xác định:
Hồi 09 giờ 20 phút ngày 22/5/2020 tại khu vực tổ 5, phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, Trần Minh Đ có hành vi tàng trữ 0,164 gam ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã vi phạm quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt từ 01 năm đến 05 năm:
a....., b......
c, Heroine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố Trần Minh Đ là có căn cứ, đúng người đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất hành vi phạm tội thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, làm mất trật tự trị an tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn liên quan đến ma túy, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Bị cáo tự mình thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, không có đồng phạm khác.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 BLHS.
Xét nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo đang trong độ tuổi lao động, có vợ và hai con nhỏ, phạm tội lần đầu, trước đó chưa có tiền án, tiền sự.
Những yếu tố trên HĐXX sẽ cân nhắc xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.
Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt từ 18 đến 24 tháng tù đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đề xuất là phù hợp; đảm bảo giáo dục bị cáo nói riêng, góp phần ngăn ngừa tội phạm về ma túy nói chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định khoản 5 Điều 249 BLHS, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản gì có giá trị. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sụng là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của BLHS; Điều 106 của BLTTHS; 01 bì niêm phong số 319/C09-TT2 bên trong chứa Heroine (mẫu hoàn lại sau giám định) cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong vụ án này Trần Minh Đ khai mua của 01 người đàn ông không quen biết, ở khu vực Bệnh viện Gang Thép, thành phố Thái Nguyên. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS;
1.Xử phạt: Trần Minh Đ 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 22/5/2020.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam Bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của BLHS; Điều 106 của BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong số 3109/C09-TT2 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an (bên trong có chứa Heroine), mặt sau phong bì có 05 (năm) hình dấu tròn của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an và chữ ký ghi họ tên Đặng Thị Thủy và Bàng Văn Tiến. (Đặc điểm các vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 411 ngày 04/8/2020 giữa Chi cục Thi hành dân sự thành phố Thái Nguyên và Công an thành phố Thái Nguyên).
3.Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/QH ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Minh Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
Án xét xử sơ thẩm công khai. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- TAND tỉnh Thái Nguyên;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND TP Thái Nguyên
- VKSND tỉnh Thái Nguyên
- Công an TP Thái Nguyên
- CQ THAHS TP Thái Nguyên;
- CCTHADS TP Thái Nguyên;
- Trại tạm giam;
- UBND nơi BC cư trú;
- Bị cáo; Người TGTT khác;
Nguyễn Thị Thanh Loan
- Lưu HS, Lưu VP THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thanh Loan
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND TP Thái Nguyên - VKSND tỉnh Thái Nguyên - Công an TP Thái Nguyên - CQ THAHS TP Thái Nguyên; - CCTHADS TP Thái Nguyên; - Trại tạm giam; - UBND nơi BC cư trú; - Bị cáo; Người TGTT khác; - Lưu HS, Lưu VP THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Loan |