- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyên đơn: Ông Phạm Văn N - - Bị đơn: 1. Ông Trần Văn T1(Trần Thanh T1) ; 2. Bà Phạm Thị L"
- Tòa quyết gì? Căn c khoản 3 Điều 308 của B lu t tố tụng dân sự năm 2015;
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH. Bản án số: 367/2019/DS-PT Ngày 26 -8 - 2019 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Thu Hương
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Văn Công
Ông Võ Văn Khoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh Ông Nguyễn Kim Đoạn - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 26 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai, vụ án thụ lý số: 293/2018/TLPT-DS ngày 23 tháng 8 năm 2018 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất"
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2018/DS-ST ngày 26 tháng 6 năm 2018 của Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 312/2018/QĐ-PT ngày 08 tháng 10 năm 2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 437/2018/QĐ-PT ngày 23 tháng 10 năm 2018, Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 348/2019/QĐ-PT ngày 25 tháng 3 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 253/2019/QĐ-PT ngày 25 tháng 4 năm 2019, Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1173/2019/QĐ-PT ngày 14 tháng 6 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 387/2019/QĐ-PT ngày 15 tháng 7 năm 2019, Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1697 a/2019/QĐ-PT ngày 22 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn N- sinh năm 1966 có m t .
Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn:
1. Ông Trần Văn T1 Trần Thanh T1) - sinh năm 1958 v ng m t
2. Bà Phạm Thị L– sinh năm 1964 v ng m t .
Cùng địa chỉ: Khóm 6B, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Cà Mau v ng m t .
2. Chị Trần Hồng D, sinh năm 1988 v ng m t .
Địa chỉ cư trú: Khóm 6 , thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.
3. Anh Trần Thanh Đ, sinh năm 1983 v ng m t .
4. Anh Trần Thanh T2(tên khác: Triểu , sinh năm 1987 v ng m t
5. Chị Nguyễn Mỹ N1, sinh năm 1985 vợ anh T2 v ng m t
6. Chị Nguyễn Tuyết N2, sinh năm 1983 vợ anh Đ v ng m t
Cùng địa chỉ cư trú: Khóm 6B, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Người kháng cáo: Ông Phạm Văn N, nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn kh i ki n, b n t khai và các tài li u có trong h sơ vụ án, nguyên đơn ông Ph m Văn N trình bày như sau:
Về quan hệ huyết thống, ông N, ông Đ1, bà là anh em ru t v i nhau.
Trư c khi ông Phạm Văn N kiện ông Trần Văn T1 Trần Thanh T1 – bà Phạm Thị , thì trư c đây ông T1 cùng vợ là bà là nguyên đơn khởi kiện ông N là bị đơn, được tóm t t như sau. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 113/2009/D - T ngày 15/10/2009 gọi t t là Bản án số 113 , tuyên xử: Bác yêu c u đòi l i đ t của ông T1– bà L; gi nguyên di n tích đ t theo đo đ c th c t 6.662,5m2 cho ông N s dụng, ông N được kê khai đăng ký quyền s dụng đ t theo quy định pháp lu t. Tại Bản án dân sự phúc thẩm số: 63/2010/D -PT ngày 13/4/2010 gọi t t là Bản án số 63 tuyên xử sửa án sơ thẩm theo hư ng: Ch p nh n yêu c u của ông T1. Tuyên b hợp đ ng c m c quyền s dụng đ t gi a ông T1– bà L v i ông N; và hợp đ ng chuy n nhượng quyền s dụng đ t gi a ông N v i ông Ph m Văn Đ1 là vô hi u. Bu c ông Đ1 tr cho ông T1– bà L ph n đ t 6.662,5m2. Bu c ông N tr cho ông Đ1 45 ch vàng 24k. Tại Quyết định giám đốc thẩm số: 273/2013/QĐ- ĐT ngày 17/6/2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao quyết định hủy 02 Bản án sơ thẩm số 113 và Bản án phúc thẩm số 63; iao hồ sơ về cho Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử lại theo thủ tục chung.
au thời gian hủy 02 Bản án số 113 và Bản án số 63 nêu trên, vào ngày 20/9/2010 Ủy ban nhân dân huyện T đã cấp iấy ch ng nh n quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn T1 Trần Thanh T1 v i diện tích 6.662,5m2. Đến khi Tòa án huyện Trần Văn Thời thụ lý lại vụ án thì ông T1– bà đã b địa phương đi không xác minh được. Do ông T1 v ng m t không lý do, nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời đã ra Quyết định số: 01/2014/QĐ- T ngày 14/02/2014 về việc đình chỉ giải quyết vụ án đã có hiệu lực pháp lu t .
Đối v i quan hệ giao dịch chuyển nhượng đất th a thu n b ng lời nói giữa ông N v i ông Đ1 có tranh chấp trư c đây, tại biên bản trả vàng sang nhượng đất l p vào ngày 01/7/2011, ông Đ1 đã giao lại toàn b diện tích đất tranh chấp cho ông N sử dụng, ông N c ng giao lại cho ông Đ1 45 chỉ vàng 24k; ông N và ông Đ1 không còn tranh chấp nữa. au thời gian giao lại đất cho ông N, ông Đ1 c ng đã b địa phương đi, xác minh không có kết quả.
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 20/6/2016, ông Phạm Văn N khởi kiện đối v i ông T1– bà :
- Th nhất, yêu cầu hủy iấy ch ng nh n quyền sử dụng đất đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho h ông Trần Văn T1 vào ngày 20/9/2010 v i diện tích 6.662,5m2 đo đạc thực tế 7.202,4m2 , thửa số 511, tờ bản đồ số 15, đất tọa lạc tại ấp C1, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nay thu c ấp C, xã K).
- Th hai, yêu cầu giữ nguyên diện tích đất theo đo đạc thực tế 6.662,5m2 đo đạc thực tế 7.202,4m2) cho ông N được kê khai đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp lu t vì đất này vào năm 1997, ông T1– bà đã sang lại cho ông N v i giá 04 chỉ vàng 24k .
Đ i v i bị đơn là ông Tr n Văn T1– bà Ph m Thị L đã trình bày t i b n t khai, Biên b n hòa gi i; B n án sơ thẩm s 113 và B n án phúc thẩm s 63 (đã bị hủy), như sau:
Về nguồn gốc phần đất tranh chấp là do cha m vợ cho diện tích 7.120m2, năm 1994 được cấp iấy ch ng nh n quyền sử dụng đất. Năm 1996 ông T1– bà L cố toàn b phần đất cho bà ê Thị 1 v i số vàng là 03 chỉ 24k Bà 1 nh n đất làm và giao vàng cho ông T1– bà . Đến năm 1997, ông N có h i vợ chồng ông T1– bà cố lại và ông bà đồng ý, nên ông N đến g p bà 1 giao vàng và lấy lại đất làm. Trong suốt thời gian tranh chấp qua, ông T1– bà không chấp nh n đã sang nhượng đất này cho ông N v i giá 04 chỉ vàng.
Theo Công văn trả lời của Chi cục thi hành án huyện Trần Văn Thời, xác định ông T1 đã nh n lại 2.000.000 đồng theo Bản án phúc thẩm số: 63/2010/D - PT ngày 13/4/2010.
- Nh ng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Các con ru t và dâu của ông T1– bà L trình bày t i biên b n làm vi c ngày 09/3/2018 (Bút lục s 197, 198) như sau: nh Trần Thanh Đ, Trần Thanh T2, Trần Hồng D, Nguyễn Mỹ N1, Nguyễn Tuyết N2 xác định không biết gì về tranh chấp đất của cha m v i ông N, nay xin t chối tham gia tố tụng, xin v ng m t t hòa giải đến xét xử sơ thẩm, phúc thẩm.
y ban nhân dân huy n T: Có văn bản xin không tham gia phiên tòa cho đến khi kết thúc vụ án.
T i phiên tòa sơ thẩm:
Ông N yêu cầu giữ y cho ông sử dụng phần đất v i diện tích đo đạc thực tế là 7.202,4m2 và tiếp tục yêu cầu hủy iấy ch ng nh n quyền sử dụng đất đã cấp cho h ông T1. Ông N c ng xác định chưa nh n được số vàng 04 chỉ 24k đã tuyên bu c ông T1– bà trả cho ông N. Đối v i số tiền án phí 390.000 đồng án phí trư c đây ông N đã n p cho Chi cục thi hành án huyện Trần Văn Thời, nhưng sau đó Tòa án thụ lý giải quyết lại vụ án và ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án nhưng không đề c p đến số tiền này nhưng ông N không có kháng cáo, ông N đồng ý sung quỹ Nhà nư c 390.000 đồng, không có yêu cầu gì nữa.
Bản án dân sự số 113/2009/DS-ST ngày 15/10/2009 của Tòa án nhân dân huyện T đã quyết định:
Bác yêu cầu đòi lại đất của anh Trần Văn T1 và Phạm Thị L.
Giữ nguyên diện tích đất theo đo đạc thực tế 6.662,5 m2 cho anh Phạm Văn N và anh N được kê khai đăng ký quyền sử dụng theo qui định của pháp lu t.
Anh N và ông Đ được giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo qui định của pháp lu t.
Bản án dân sự số 63/2010/DS-ST ngày 13/4/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau đã quyết định:
Chấp nh n yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T1.
Tuyên bố hợp đồng cầm cố đất giữa ông Trần Văn T1 v i ông Phạm Văn N và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Phạm Văn N v i ông Phạm Văn Đ1 vô hiệu.
Bu c ông Phạm Văn Đ1 trả cho ông Trần Văn T1 và bà Phạm Thị phần đất tranh chấp có diện tích thực tế 6.662,5 m2. Có vị trí Đông giáp Phạm Văn N 53,5 mét; B c giáp Dương T4 125 mét. Đất tọa lạc tại ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (có sơ đồ kèm theo). Ông Phạm Văn Đ1 có nghĩa vụ di dời nhà và tài sản khác thu c sở hữu của ông ra kh i phần đất tranh chấp để trả lại cho ông Trần Văn T1 và bà Phạm Thị L.
Bu c ông Phạm Văn N trả cho ông Phạm Văn Đ1 45 chỉ vàng 14 k, bu c ông Trần Văn T1 và bà Phạm Thị L có nghĩa vụ liên đ i trả cho ông Phạm Văn N 03 chỉ vàng 24 k.
Quyết định giám đốc thẩm số 237/2013/DS-GĐT ngày 17/6/2013 của Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định:
Hủy toàn b bản án phúc thẩm số 63/2010/DS-ST ngày 13/4/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau và hủy toàn b bản án dân sự số 113/2009/DS-ST ngày 15/10/2009 của Tòa án nhân dân huyện T.
iao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm theo qui định pháp lu t.
Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 01/2014/QĐST-DS ngày 14/02/2014 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời đã đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 157/2013/T T-D ngày 05/9/2013 về việc "Tranh chấp hợp đồng cầm cố đất" giữa ông Trần Văn T1 v i ông Phạm Văn N do ông T1 được triệu t p hợp lệ đến lần th hai nhưng vẫn v ng m t không lý do.
Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2018/DS-ST ngày 26 tháng 6 năm 2018 của Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau đã quyết định:
1. Không chấp nh n toàn b yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn N khởi kiện ông Trần Văn T1 Trần Thanh T1 – bà Phạm Thị về các yêu cầu:
- êu cầu về hủy iấy ch ng nh n quyền sử dụng đất đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho h ông Trần Văn T1 Trần Thanh T1 vào ngày 20/9/2010 v i diện tích 6.662,5m2, thửa số 511, tờ bản đồ số 15, đất tọa lạc tại ấp C1, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nay thu c ấp C, xã K đo đạc thực tế là 7.202,4m2).
- êu cầu về giữ nguyên diện tích đất theo đo đạc thực tế 7.202,4m2 cho ông Phạm Văn N được kê khai đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp lu t.
2. Tuyên bố “Hợp đồng cố đất xác l p năm 1997 giữa Phạm Văn N v i ông Trần Văn T1 Trần Thanh T1 – bà Phạm Thị là vô hiệu. Bu c ông Trần Văn T1 Trần Thanh T1 – bà Phạm Thị hoàn trả cho ông Phạm Văn N 03 chỉ vàng 24k; và ông Phạm Văn N hoàn trả cho Trần Văn T1 Trần Thanh T1 – bà Phạm Thị phần đất được Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho h ông Trần Văn T1 Trần Thanh T1 vào ngày 20/9/2010 v i diện tích 6.662,5m2 theo đo đạc thực tế 7.202,4m2 , thửa số 511, tờ bản đồ số 15, đất tọa lạc tại ấp C1, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nay thu c ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau . Vị trí:
- Phía Đông cạnh dài 53.54m giáp đất còn lại của ông Phạm Văn N n m ngoài diện tích đất tranh chấp ;
- Phía Tây cạnh dài 51.35m giáp Kênh Cua e e;
- Phía Nam cạnh dài 135.2m giáp đất ông Nguyễn Phư c T5;
- Phía B c cạnh dài 125 m giáp đất ông Dương T4.
(K m b n v ngày 17/10/2017 của Trung tâm k thu t – Công ngh – Quan tr c tài nguyên và môi trường t nh Cà Mau).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định pháp lu t.
Ngày 09/7/2018, ông Phạm Văn N kháng cáo toàn b bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hư ng chấp nh n yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Phạm Văn N vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, các đương sự không tự th a thu n được v i nhau về việc giải quyết vụ án.
Người b o v quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Nguồn gốc đất là của cụ Phạm Văn H (cha của ông Phạm Văn Q). Cụ H chết, ông Phạm Văn Q (cha vợ ông T1) quản lý sử dụng đất. Thời gian này, bà L ở được cho ba công đất, bà L đã sử dụng riêng và đã sang nhượng lại cho ông N để đi làm nơi khác. Việc sang nhượng giữa ông T1, bà L v i ông N không có làm giấy tờ, được nhiều người trong thân t c biết. Năm 2005 ông N sang lại cho ông Đ1. Năm 2007 vợ chồng T1- L1 xin chu c lại vì cho r ng cố đất cho ông N, không có sang nhượng.
Tại Công văn ngày 02/8/2010 của UBND xã K xác nh n việc đăng ký, kê khai, cấp quyền sử dụng đất đối v i h ông Trần Văn T1 thì thời điểm kê khai, ông T1 kê khai diện tích 7.120 m2 đất trồng lúa. Qua đối chiếu thì không chính xác, vì đất có nguồn gốc của ông Phạm Văn H (ông n i vợ ông T1 trư c đây do ông Phạm Văn Q (cha vợ ông T1) quản lý. Ông Q chết năm 1992, không để lại di chúc và c ng không có ch ng t ch ng minh là phần đất trên ông Q cho vợ chồng ông T. Trên diện tích đất 7.120 m2 có đất ở, đất vườn g n v i mồ mã của ông Phạm Văn H (ông n i vợ ông T1 và đất trồng lúa nhưng ông T1 kê khai toàn b diện tích 7.120 m2 đất trồng lúa nên UBND xã K yêu cầu Phòng Tài nguyên Môi trường chưa cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất cho ông T1. au đó, diện tích 7.120 m2 đất trồng lúa yêu cầu UBND xã K liên hệ yêu cầu h ông T1 đến để kê khai, đăng ký lại diện tích. Nhưng do hoàn cảnh gia đình khó khăn, gia đình ông T1 đi làm mư n và sau đó đi kh i địa phương không liên lạc được nên chưa hoàn thành thủ tục cấp giấy cho ông T1.
Do thủ tục cấp giấy ch ng nh n cho ông T1 có nhiều sai sót nên đề nghị H i đồng xét xử hủy iấy ch ng nh n quyền sử dụng đất đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho h ông Trần Văn T1 Trần Thanh T1 vào ngày 20/9/2010 v i diện tích 6.662,5m2, thửa số 511, tờ bản đồ số 15, đất tọa lạc tại ấp C1, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nay thu c ấp C, xã K đo đạc thực tế là 7.202,4m2); giữ nguyên diện tích đất theo đo đạc thực tế 7.202,4m2 cho ông Phạm Văn N được kê khai đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp lu t vì ông N canh tác liên tục t năm 1979 đến nay.
Ki m sát viên tham gia phiên tòa phát bi u ý ki n của Vi n ki m sát về vi c tuân theo pháp lu t trong quá trình gi i quy t vụ án giai đo n phúc thẩm:
Về tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và H i đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của B lu t tố tụng dân sự; các đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của B lu t tố tụng dân sự.
Về n i dung: Về nguồn gốc phần đất tranh chấp là của ông Trần Văn T1 và bà Phạm Thị được cha m bà cho vợ chồng bà . ng Trần Văn T1 được cấp iấy ch ng nh n quyền sử dụng đất năm 1994, v i diện tích 7.120m2, do iấy ch ng nh n quyền sử dụng đất bị mất, thể hiện thông qua thông báo mất iấy Ch ng nh n quyền sử dụng đất vào ngày 25/6/2008 của Phòng Tài Nguyên và Môi trường huyện T. Năm 1996 vợ chồng ông T1– bà cố cho bà ê Thị 1 toàn b phần đất nêu trên v i giá 03 chỉ vàng 24k, Bà 1 làm được 01 mùa thì giao lại 03 công đất cho ông N canh tác và chính bà 1 nh n lại của ông N 03 chỉ vàng 24k, còn việc vợ chồng T1 – L1 th a thu n như thế nào đối v i ông N thì bà không biết. Ông T1– bà không th a nh n chuyển nhượng đất cho ông N. Ông N không có căn c ch ng minh ông T1– bà sang nhượng đất vì không có làm giấy tờ. Việc ông N nh n lại đất canh tác và giao lại đúng v i số vàng mà trư c đây vợ chồng bà đã cố đất cho bà 1, không phải là việc chuyển nhượng đất, vì giá trị cố đất luôn thấp hơn rất nhiều so v i giá chuyển nhượng, thực tế sau đó chính ông N đã sang nhượng b ng lời nói cho ông Đ1 phần đất này v i giá 45 chỉ vàng 24k nhiều trên gấp 10 lần .
Không có căn c xác định việc chuyển nhượng đất giữa ông T1– bà v i ông N. Đề nghị H i đồng xét xử không chấp nh n kháng cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ pháp lu t tranh chấp, thụ lý và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền theo quy định của B lu t tố tụng dân sự.
Xét kháng cáo của ông Phạm Văn Nga: H i đồng xét xử nh n thấy:
Tại Quyết định giám đốc thẩm số: 273/2013/QĐ- ĐT ngày 17/6/2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao quyết định hủy 02 Bản án sơ thẩm số 113/2009/DS-ST ngày 15/10/2009 của Tòa án nhân dân huyện T và Bản án phúc thẩm số 63/2010/DS-ST ngày 13/4/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; iao hồ sơ về cho Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử lại theo thủ tục chung, cần làm rõ những n i dung: ác định giao dịch của ông T1– bà v i ông N là cầm cố hay chuyển nhượng đất; xử lý triệt để phần m của vợ ông Đ1 đang tồn tại trên phần đất tranh chấp.
Đối v i phần đất tranh chấp, sau khi án xử phúc thẩm năm 2010, Ủy ban nhân dân huyện T cấp iấy ch ng nh n quyền sử dụng đất cho h ông Trần Văn T1 vào ngày 20/9/2010 v i diện tích 6.662,5m2 đo đạc thực tế 7.202,4m2 thửa số 511, tờ bản đồ số 15, đất tọa lạc tại ấp C1, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nay thu c ấp C, xã K . Theo thực tế, phần đất tranh chấp theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, bản v đo đạc ngày 17/10/2017 của Trung tâm kỹ thu t – Công nghệ – Quan tr c tài nguyên và Môi trường tỉnh Cà Mau xác định, diện tích đất tranh chấp 7.202,4m2, vị trí:
- Phía Đông cạnh dài 53.54m giáp đất còn lại của ông Phạm Văn N n m ngoài diện tích đất tranh chấp ;
- Phía Tây cạnh dài 51.35m giáp Kênh Cua e e;
- Phía Nam cạnh dài 135.2m giáp đất ông Nguyễn Phư c T5;
- Phía B c cạnh dài 125 m giáp đất ông Dương T4.
Quyết định giám đốc thẩm số 237/2013/D - ĐT ngày 17/6/2013 của Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao đã hủy toán b bản án này. Do đó việc Ủy ban nhân dân huyện T cấp iấy ch ng nh n quyền sử dụng đất cho h ông Trần Văn T1 vào ngày 20/9/2010 dựa trên bản án này không còn giá trị.
Trên phần đất tranh chấp hiện có 03 ng i m n m giáp m t tiền Kênh Cua e e m chú Bảy và ông n i của ông N có t lâu năm trư c khi tranh chấp; phần m vợ của ông Đ1 có trư c khi tranh chấp . Ông N vẫn cam kết giữ nguyên 03 ngôi m t trư c đến nay trên phần đất tranh chấp. Trên đất tranh chấp hiện không có nhà nhà ông Đ1 đã không còn . Ông N xác định m t số cây cối ông trồng, lúa ông c ng đang trồng, nhưng ông xác định không có yêu cầu định giá cây cối, cải tạo đất vì không có cải tạo gì l n, t trư c đến giờ là đất ru ng ; ông N xác định nếu Tòa án tuyên phần đất thu c về ai thì người đó sử dụng các phần cây cối trên đất. Tại kết lu n định giá ngày 03/11/2017, thì phần đất tranh chấp có giá 213.008.000 đồng trong đó, đất ở nông thôn: 46.746.300 đồng; đất lúa: 96.890.484 đồng; đất trồng cây lâu năm 69.370.938 đồng .
Về nguồn gốc phần đất tranh chấp theo văn bản ngày 02/8/2010 của UBND xã K xác nh n việc đăng ký, kê khai, cấp quyền sử dụng đất đối v i h ông Trần Văn T1 gửi Chánh án Tòa án nhân dân tối cao (Bút lục 299 thì năm 1993, Đoàn đăng lý kê khai đo đạc, cấp Giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất của tỉnh Minh Hải (nay là tỉnh Cà Mau) kết hợp v i UBND huyện T, UBND xã K đến t ng h dân để yêu cầu kê khai làm thủ tục cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất. Tại thời điểm kê khai, ông T1 kê khai diện tích 7.120 m2 đất trồng lúa. Qua đối chiếu thì không chính xác, vì đất có nguồn gốc của ông Phạm Văn H (ông n i vợ ông T1 trư c đây do ông Phạm Văn Q (cha vợ ông T1) quản lý. Ông Q chết năm 1992, không để lại di chúc và c ng không có ch ng t ch ng minh là phần đất trên ông Q cho vợ chồng ông T1. Trên diện tích đất 7.120 m2 có đất ở, đất vườn g n v i mồ mã của ông Phạm Văn H(ông n i vợ ông T1) và đất trồng lúa nhưng ông T1 kê khai toàn b diện tích 7.120 m2 đất trồng lúa nên UBND xã K yêu cầu Phòng Tài nguyên Môi trường chưa cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất cho ông T1. Sau đó, diện tích 7.120 m2 đất trồng lúa yêu cầu UBND xã K liên hệ yêu cầu h ông T1 đến để kê khai, đăng ký lại diện tích. Nhưng do hoàn cảnh gia đình khó khăn, gia đình ông T1 đi làm mư n và sau đó đi kh i địa phương không liên lạc được nên chưa hoàn thành thủ tục cấp giấy cho ông Trung. T năm 1997 đến năm 2006, toàn b diện tích đất ông T1 đ ng tên do ông N quản lý, sử dụng. T năm 2007 đến nay, phần đất trên do ông Phạm Văn Đ1(anh ông N) quản lý sử dụng.
Tại tờ tự khai ngày 23/3/2009 của ông Phạm Văn Đ1 gửi cho Tòa án nhân dân huyện T thì ông Đ1 c ng trình bày đất của cha m để lại, anh em ai khó khăn thì cha m cho mượn đất để sản xuất, không được quyền sang bán. Năm 1975 ông Đ1 về cất nhà ở và mượn cha 03 công đất ru ng để sản xuất, đến năm 1978 ông Đ1 đi làm ăn xa và trả lại phần đất trên cho cha. Năm 1992, cha mất, không để lại di chúc.
Ngày 01/7/2011, giữa ông Đ1 và ông N đã có biên bản th a thu n, về việc năm 2007 ông N có sang nhượng thành quả lao đ ng cho ông Đ1 thu c phần đất tọa lạc tại ấp C, xã K v i diện tích 7.120 m2 v i giá 4.5 cây vàng 24K. Vì điều kiện đi làm ăn xa nên ông Đ1 giao toàn b diện tich đất 7.120 m2 cho ông N, ông N đã trả cho ông Đ1 4.5 cây vàng 24K, có sự ch ng kiến của địa phương ấp là Trần Hữu H1.(Bút lục 254).
Tại cấp phúc thẩm, UBND huyện T cung cấp thông tin, tài liệu theo văn bản số 2620/UBND-VP ngày 29/7/2019 thể hiện giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất cấp cho ông T1 ngày 07/02//1994 là thu c trường hợp cấp đồng loạt lần đầu, hồ sơ lưu tại Trung tâm kỹ thu t Công nghệ - Quan tr c Tài nguyên và Môi trường tỉnh Cà Mau.
Trung tâm kỹ thu t Công nghệ - Quan tr c Tài nguyên và Môi trường tỉnh Cà Mau có cung cấp hồ sơ của ông Trần Thanh T1 xin cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất vào năm 1994 thì UBND huyện T cấp đất cho ông Trần Thanh T1 v i diện tích 7.120 m2, đơn xin cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất của ông T1 ghi 7.120 m2 đất màu, không thể hiện rõ nguồn gốc đất, có biên bản xét cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất ngày 03/02/1994 của xã K, tờ trình phê duyệt cấp giấy ngày 04/02/1994 của UBND xã K; danh sách các tổ ch c, cá nhân đủ điều kiện cấp giấy; Quyết định số 36-QĐ-UB ngày 07/02/1994 của UBND huyện T; sổ cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất ngày 10/6/1994.
UBND huyện T cung cấp hồ sơ cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất cho ông T1 ngày 20/9/2010. Căn c Quyết định số 358/QĐ-UBND ngày 17/8/2010 của UBND huyện T về việc hủy giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất của h ông Trần Thanh T1 và Bản án số 63/2010/DS-PT ngày 13/4/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, ông T1 làm đơn xin cấp lại giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất. Ngày 20/9/2010 UBND huyện T cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác g n liền v i đất cho h ông Trần Văn T1, trong giấy này thể hiện chưa ch ng nh n quyền sở hữu nhà ở, chưa ch ng nh n quyền sở hữu công trình xây dựng khác và cây lâu năm.
Do nguồn gốc đất là do ông Phạm Văn Q (Phạm Văn B) (cha vợ ông T1) quản lý. Ông Q chết năm 1992, không để lại di chúc và c ng không có ch ng t ch ng minh là phần đất trên ông Q cho vợ chồng ông T1 theo văn bản của UBND xã K ngày 02/8/2010. Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác định đầy đủ những người th a kế của ông Phạm Văn Q (Phạm Văn B để đưa vào tham gia tố tụng, làm rõ những người th a kế của ông Phạm Văn Q (Phạm Văn B) có tranh chấp không, t đó m i đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, đánh giá đúng bản chất của vụ án. Vấn đề này cấp phúc thẩm không thể bổ sung được nên H i đồng xét xử phúc thẩm hủy toàn b bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu.
Vì các l trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c khoản 3 Điều 308 của B lu t tố tụng dân sự năm 2015;
Căn c Điều 26, 34, 37, 147, 227 B lu t Tố tụng dân sự;
Căn c Điều 146, 137, 329 B lu t Dân sự năm 1995; Điều 122, 123, Điều 688 B lu t Dân sự năm 2015;
Căn c Điều 203 u t đất đai năm 2013;
Căn c Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc h i quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nh n m t phần kháng cáo của ông Phạm Văn N.
Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2018/D - T ngày 26 tháng 6 năm 2018 của Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau, chuyển hồ sơ cho Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu.
Hoàn tạm n p án phí dân sự phúc thẩm cho ông Phạm Văn N số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 00103 ngày 09/7/2018 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể t ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao(1); - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh (1); - TAND tỉnh Cà Mau(1); - VKSND tỉnh Cà Mau(1); - Sở Tư pháp tỉnh Cà Mau(1); - Cục THADS tỉnh Cà Mau); - Đương sự (9); ưu VP, HS. 16b (THUY) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký tên và đóng dấu) Đinh Ngọc Thu Hương |