- Tranh chấp gì? "Nguyễn Chí T - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Chí T (Nh).
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 143 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
TÒA
ÒA
T M T
T
c p – T o – nh h c Bản án số: 366/2017/HSPT Ngày: 15-12-2017
NHÂN DANH
ƯỚ
Ò
T M
TÒ
T
THÁP
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Phú Đông
Các thẩm phán:
Ông Huỳnh Thanh Mỹ
Bà Nguyễn Thị Mai
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Thanh Trúc - Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Trần Huỳnh Bích Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 329/2017/HSPT ngày 03 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Chí T (Nh).
Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Chí T (Nh) đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 21/2017/HSST ngày 25 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện A.
Bị cáo có kháng cáo:
UYỄ
Í T
Tên gọi khác: Nh;
Sinh năm: 1990;
HKTT: Ấp L, xã P, huyện A, tỉnh Đồng Tháp;
Nghề nghiệp: Làm ruộng;
Trình độ học vấn: 08/12;
Con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1951 và bà Trần Thị Đ, sinh năm 1958;
Tiền sự, tiền án: không,
Tạm giữ: Ngày 02/7/2017;
Tạm giam: Ngày 11/7/2017.
Ngoài ra, trong vụ án còn có người bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.
Ậ T ẤY:
Theo cáo trạng c a Viện kiểm sát nh n d n huyện A và b n án c a Tòa án nh n d n huyện A th n i dung vụ án ược tóm t t như sau:
Khoảng 9 giờ ngày 24/6/2017, Trương Văn L1 điều khiển xe mô tô biển số 66A-051.47 chạy từ hướng xã B đến xã P, huyện A. Khi đến địa phận ấp L, xã P thì xảy ra va quẹt chổ kính chiếu hậu với xe ô tô tải biển số 66C-056.03 chạy ngược chiều do Huỳnh Công M điều khiển, cả hai có cự cãi qua lại, L1 dùng tay đánh vào vai của M 02 cái, nên M đóng cửa xe và tiếp tục điều khiển chạy về hướng xã B. Luốc tiếp tục điều khiển xe đi khoảng 400m gặp bị cáo Nguyễn Chí T và nói chuyện giữa xe L1 và M va chạm, M lái xe bỏ chạy, nên bị cáo T đi bộ theo khoảng 500 – 600m gặp Lâm Thanh T1 đang chạy xe môtô nên kêu T1 chở chạy theo xe tải. Khi đến nơi xe tải đang đậu, T dùng tay phải đập vào kính xe tải bên chổ ngồi tài xế là cửa kính bên trái bể hoàn toàn, cẳng tay phải của T chảy nhiều máu, nên kêu T1 chở về nhà tự băng vết thương lại. Sau đó M tố giác đến Công an xã P sự việc trên.
- Vật chứng thu ược c a vụ án gồm: nhiều mãnh kính bị vỡ; 01 áo thun nam màu đen; 01 quần Jean nam màu xanh đen; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280, có gắn sim bên trong.
- Theo Kết luận giám định số: 2287/C54B ngày 16/8/2017 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh của Tổng cục Cảnh sát kết luận: các dấu vết có ký hiệu A1, A2, A3 và A4 đều là máu người. Kiểu gen của mẫu máu A1 trùng với kiểu gen của Nguyễn Chí T. Không phân tích được kiểu gen từ mẫu A2, A3 và A4 do các mẫu này đã bị biến tính.
- Theo kết qu ịnh giá c a H i ồng ịnh giá tài s n thì: 01 kính xe ô tô tải trị giá 5.015.000đồng
Tại b n án h nh sự sơ thẩm số: 21/2017/HSST ngày 25/9/2017 c a Tòa án nhân dân huyện A ã quyết ịnh:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài s n”.
Áp dụng khoản 1 Điều 143, các điểm b, h, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T 01 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 02/7/2017.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật ịnh.
Ngày 28 tháng 9 năm 2017, bị cáo Nguyễn Chí T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo,
ÉT T ẤY:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Chí T thừa nhận hành vi phạm tội như sau:
Khi bị cáo Tâm nghe Trương Văn L1 kể lại việc va quẹt với xe ô tô tải biển số 66C-056.03 do Huỳnh Công M điều khiển, bị cáo chạy theo xe ô tô tải và dùng tay đập vỡ kính bên trái của xe tải chỗ tài xế ngồi. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại do bị cáo gây ra là 5.015.000 đồng.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận biết được tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ. Nhưng bị cáo lại dùng tay đập vỡ kính bên trái xe tải gây thiệt hại cho chủ sở hữu hợp pháp của xe tải. Bị cáo đã cố ý làm hư hỏng tài sản của người bị hại một cách trái pháp luật. Trong khi bị cáo không liên quan gì đối với mẫu thuẫn trước đó giữa tài xế xe tải và Trương Văn L1. Hành vi của bị cáo thể hiện bản chất, hung hăng. Xét tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để có thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và có tác dụng phòng ngừa chung trong xã hội.
Án sơ thẩm xử bị cáo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” là đúng người, đúng tội và đã xem xét hết các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, mức hình phạt cấp sơ thẩm xử là phù hợp. Tuy nhiên, xét thấy sau khi án sơ thẩm tuyên gia đình bị cáo cung cấp đơn xác nhận bị cáo là cháu ruột của ông Trần Văn B1 tham gia cách mạng được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba, bản thân bị cáo là bộ đội xuất ngũ, tình tiết này chưa được cấp sơ thẩm xem xét. Do bị cáo xuất trình tình tiết mới nên xem xét giảm cho bị cáo một phần về hình phạt.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát Tỉnh phát biểu quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Chí T giảm một phần hình phạt cho bị cáo. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên chấp nhận.
Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự.
QUYẾT Ị :
Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Chí T (Nh). Sửa quyết định bản án sơ thẩm về hình phạt.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Chí T (Nh) phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài s n”.
Áp dụng khoản 1 Điều 143; điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Chí T (Nh) 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/7/2017.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Chí T (Nh) không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TTM
ÉT
T M
| Nơi nhận: t - VKSND Tỉnh; - Ban Nội chính Tỉnh ủy; - Sở Tư pháp Tỉnh; - TAND huyện A; - Chi cục THADS huyện A; - UBND xã Tân Kiều, huyện A; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh; - Phòng KTNV-THA.TA Tỉnh; - Bị cáo; - Lưu HSVA (Trúc). | Thẩm phán - hủ tọa phiên tòa (Đã ký) Tô h ông |