vanban.org

Bản án 365/2023/HSST — Hình sự

Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 06/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trương D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Trương D 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/4/2023.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trương D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 365/2023/HSST
Ngày: 06/9/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Thắng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Bá Chương

Bà Nguyễn Thị Hương.

Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh- Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (điểm cầu trung tâm) xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 320/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2023 theo quyết D đưa vụ án ra xét xử số: 352/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Trương D Giới tính: Nam, sinh năm 1998 tại tỉnh Cà Mau; nơi thường trú: 69A/10 Nguyễn Văn Tiết, khu phố Đông Nhì, phường Lái T, thành phố Th, tỉnh Bình D; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: công nhân; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Trương Hùng M, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1967; chưa có vợ, con; Tiền án: Không, Tiền sự: không

Bị tạm giam từ ngày 17/4/2023 đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thủ Đức. Bị cáo tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần- có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1967, địa chỉ: 69A/10 khu phố Đông N, phường Lái T, thành phố Th, tỉnh Bình D- vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 17 phút ngày 17/4/2023, Đội Cảnh sát giao thông Rạch Chiếc - Công an Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xử lý vi phạm tốc độ tại trước Lô E1, Xa lộ Hà Nội, phường Hiệp Phú, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thì phát hiện Trương D điều khiển xe mô tô biển số 61C2 - 210.53 chạy quá tốc độ (97/60 km/h) nên ra tín hiệu dừng xe để kiểm tra. Thời điểm kiểm tra, D có biểu hiện nghi vấn nên tổ công tác đưa D lên xe thùng để tiến hành kiểm tra hành chính. Lúc này, D lấy từ trong túi quần phía trước bên trái đang mặc ra 02 gói nilon chứa tinh thể không màu bỏ trên ghế ngồi, D khai nhận đây là mà túy nên Đội Cảnh sát giao thông Rạch Chiếc - Công an Thành phố Hồ Chí Minh giao cho Công an phường Hiệp Phú lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức, Trương D khai nhận: Do cần mua ma túy về sử dụng, ngày 16/4/2023 D lên mạng xã hội đặt mua một gói ma túy với giá 3.000.000 đồng của một người đàn ông (không rõ lai lịch) và được hẹn giao ma túy trước khu vực sản xuất gốm sứ “Lâm Loan” trên Quốc lộ 13, phường Lái Thiêu, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. D điều khiển xe mô tô biển số 61C2 - 210.53 đến điểm hẹn để lấy ma túy. Sau đó D sử dụng một phần ma túy đã mua và thuê phòng khách sạn ở Bình Dương ngủ lại. Đến ngày 17/4/2023, D cất số ma túy còn lại vào túi quần bên trái phía trước rồi điều khiển xe về lại Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến trước địa chỉ Lô E1, Xa lộ Hà Nội, phường Hiệp Phú, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị tổ tuần tra kiểm tra, phát hiện số ma túy trên. Kết quả xét nghiệm chất ma túy xác D Trương D dương tính với chất ma túy Methamphetamine.

Kết luận giám D số 3866/KL-KT-Hs ngày 25/4/2023, của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh, xác D: gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trương D và hình dấu Công an phường Hiệp Phú bên trong có tinh thể không màu qua giám D:

+ Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m1 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,9845g loại Methamphetamine.

+ Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m2 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1493g loại Methamphetamine

Tại bản cáo trạng số: 311/CTr-VKSTĐ ngày 28/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trương D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Sau khi trình bày bản luận tội vị đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Trương D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đồng thời đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt Trương D 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Bị cáo Trương D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo khai chiếc xe máy hiệu Honda Future, biển số 61C2

- 21053 do bà Nguyễn Thị Thu Trang (mẹ ruột của bị cáo) mua và cho bị cáo Trương D đứng tên chủ sở hữu.

NHẬN D CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận D như sau:

[1]. Về tố tụng:

Hành vi, quyết D tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra Viên, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy D của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết D của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết D của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung: Lời khai của bị cáo Trương D phù hợp với bản kết luận giám D về ma túy của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có cơ sở xác D bị cáo Trương D có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ở thể rắn có khối lượng 2,1338g ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng. Do đó có căn cứ xác D bị cáo Trương D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp quy D điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố là có căn cứ pháp luật.

[3]. Xét về tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo: Tội phạm mà bị cáo gây ra nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây mất trật tự trị an cho xã hội, gây nguy hại cho sức khỏe của con người, góp phần làm băng hoại đạo đức xã hội, kích thích các tệ nạn xã hội khác có cơ hội phát triển, bản thân bị cáo có nhân thân xấu bị xử phạt hành chính nhiều lần nên cần phải xử lý bị cáo bằng một hình phạt nghiêm khắc phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra nhằm mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy D tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5]. Vật chứng vụ án:

- 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có ghi số vụ (871/23) cùng chữ ký giám D viên Nguyễn Văn Út Lớn và điều tra viên Trần Ngọc Hiệp bên trong có hai gói nylon là mẫu vật còn lại sau khi giám D 01 cân tiểu ly sau có chữ Made in china, 01 cây kéo nhỏ bằng kim loại thì cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu xanh có số sim 0358274698 và 03785111447 của Trương D dùng để liên lạc mua ma túy thì cần tịch thu sung công vào ngân sách Nhà nước.

- 01 xe máy hiệu Honda Future, biển số 61C2 - 21053. Bà Trang khai xe này do bà Nguyễn Thị Thu Trang (mẹ ruột của Trương D) mua và cho bị cáo Trương D đứng tên chủ sở hữu, bị cáo D khai bị cáo là người đứng tên sở hữu xe và xe này nguồn tiền do bà Trang bỏ ra mua nhưng không có tài liệu chứng cứ nào xác D nguồn tiền do bà Trang bỏ ra và nhờ bị cáo đứng tên xe. Do xe này bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

[6]. Về án phí: Xét cần buộc bị cáo Trương D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo qui D của Bộ luật tố tụng hình sự và nghị quyết quy D về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT D:

1. Tuyên bố bị cáo Trương D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Trương D 02 (hai) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 17/4/2023.

3. Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có ghi số vụ (871/23) cùng chữ ký giám D viên Nguyễn Văn Út Lớn và điều tra viên Trần Ngọc Hiệp bên trong có hai gói nylon là mẫu vật còn lại sau khi giám D 01 cân tiểu ly sau có chữ Made in china, 01 cây kéo nhỏ bằng kim loại;

Tịch thu sung công vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu xanh có số sim 0358274698 và 03785111447 và 01 xe gắn máy hiệu Honda Future, biển số 61C2 – 21053.

(Phiếu nhập kho vật chứng số NK23/275C ngày 25/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).

3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Buộc bị cáo Trương D phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Trường hợp bản án, quyết D được thi hành theo quy D tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy D tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy D tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Bị cáo Trương D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu Trang có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ