- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo K tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thị Bích K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 365/2018/HSST Ngày: 16-10-2018 |
NHÂN DÂNH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B
TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Xuân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh
Bà Thiều Thị Phi Loan
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Tuấn - Cán bộ Tòa án
nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Anh-Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở ấp T, xã P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 322/2018/HSST ngày 12 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 243/2018/QĐXX ngày 19 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thị Bích K, sinh ngày 03 tháng 4 năm 1992, tại Kiên Giang.
Nơi đăng ký NKTT: Xã T, thị xã H, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở hiện nay: Không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn Đ, sinh năm 1952 và bà Trần Thị N, sinh năm 1966; có con Lê Thị Phi Y, sinh ngày 16/10/2007; tiền án: Không, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giữ ngày 18-5-2018, chuyển tạm giam theo lệnh số 158 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thành phố B. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Thị Bích K là người nghiện ma túy. Vào khoảng 11 giờ ngày 17 tháng 5 năm 2018, Ki đi xe buýt đến khu vực ngã tư B, thị xã D, tỉnh Bình Dương mua của 1 người tên Q (không rõ lai lịch) 01 (một) gói ma túy tổng hợp (hàng đá) với giá 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) và được Q cho thêm 01 gói ma túy tổng hợp (hàng đá). Sau đó, K mang về chia thành 03 (ba) gói ma túy nhỏ để sử dụng.
Đến khoảng 16 giờ ngày 18 tháng 5 năm 2018, K cất giấu 02 (hai) gói ma túy tổng hợp vào túi quần bên phải rồi đi đến tổ 21, ấp H, xã P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm: 02 (hai) gói ny lon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng, Lê Thị Bích K khai là ma túy tổng hợp (hàng đá) đã được niêm phong có chữ ký của K và dấu mộc của Công an xã P, thành phố B.
Tại Kết luận giám định số 456/PC54-GĐMT ngày 28-8-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, kết luận như sau:
“Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định có khối lượng Methamphetamine là 0,1442 gam.”
Tại cáo trạng số 322/CT/VKS-HS ngày 05-9-2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố bị cáo Lê Thị Bích K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt bị Lê Thị Bích K từ 14 tháng đến 18 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 18 tháng 5 năm 2018, tại khu vực tổ 21, ấp H, xã P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Lê Thị Bích K có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói ma túy loại Methamphetamine, có trọng lượng 0,1442 gam. Tại Kết luận giám định số 456/PC54-GĐMT ngày 28-8-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai đã xác định: “Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định có khối lượng Methamphetamine là 0,1442 gam.” Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 như cáo trạng đã truy tố là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và là một trong những nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm cũng như các tệ nạn xã hội khác. Bản thân bị cáo biết rõ việc tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy pháp luật nghiêm cấm, nhưng để có ma túy sử dụng, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật. Nên cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, cải tạo giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt (chưa có tiền án, tiền sự) được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định là 0,1442 gam (Theo Biên bản giao nhận vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự TP. B ngày 16/10/2018)
Đối với người đàn ông tên Q (không rõ lai lịch, địa chỉ) bán ma túy cho K, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Thị Bích K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xöû phaït bị cáo Lê Thị Bích K 1 (một) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18-5-2018.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định là 0,1442 gam (Theo Biên bản giao nhận vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B ngày 16/10/2018)
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Đồng Nai; - Viện kiểm sát nhân dân TP B; - Thi hành án hình sự; - Công an TP. B; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Thị Thanh Xuân Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |