- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "T/c hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam V.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 364/2018/DS-ST Ngày: 23 - 8 - 2018 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mộng Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Thành Viên.
Ông Lê Ngọc Hóa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thành Luân - Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2018 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 757/2017/TLST-DS ngày 28 tháng 12 năm 2017 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 247/2018/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 7 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 268/2018/QĐST-DS ngày 02 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam V; Địa chỉ trụ sở: Tầng 2, Tòa nhà Ree Tower, số 9 đường Đoàn Văn Bơ, Phường 12, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh Vũ, sinh năm: 1994; Địa chỉ: Số 26 đường Đào Duy Anh, Phường 9, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 812/UQTT-QTRR.17 ngày 29/9/2017) (Có mặt).
- Bị đơn: Bà Vũ Thị P, sinh năm 1970; Địa chỉ: Số 3/39 đường Thống Nhất, Phường 15, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 15/12/2017 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam V – ông Nguyễn Thanh Vũ trình bày:
Ngày 28/8/2015, bà Vũ Thị P có ký hợp đồng tín dụng số 20150904-500000-0176 với Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam V (sau đây được viết tắt là Công ty) vay số tiền 26.375.000 (Hai mươi sáu triệu ba trăm bảy mươi lăm ngàn) đồng với lãi suất thỏa thuận 3.75%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, bà P có trách nhiệm thanh toán số tiền 48.492.000 (Bốn mươi tám triệu bốn trăm chín mươi hai ngàn) đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 36 tháng; 35 tháng đầu, mỗi tháng trả 1.347.000 (Một triệu ba trăm bốn mươi bảy ngàn) đồng, tháng cuối cùng trả 1.347.000 đồng (Một triệu ba trăm bốn mươi bảy ngàn) đồng. Thanh toán vào ngày 07 hàng tháng. Bắt đầu từ ngày 07/10/2015.
Thực hiện hợp đồng, khách hàng đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và thanh toán cho Công ty tài chính 01 lần với tổng số tiền đã trả 1.347.000 (Một triệu ba trăm bốn mươi bảy ngàn) đồng. Kể từ ngày 25/12/2015 đến nay bà P không thanh toán thêm bất cứ khoản nào dù Công ty đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở.
Do khách hàng trễ hạn thanh toán nên Công ty khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Vũ Thị P phải thanh toán số tiền bao gồm cả gốc và lãi là: 46.859.035 (Bốn mươi sáu triệu tám trăm năm mươi chín ngàn không trăm ba mươi lăm) đồng. Trong đó số tiền nợ gốc còn lại là: 26.017.063 (Hai mươi sáu triệu không trăm mười bảy ngàn không trăm sáu mươi ba) đồng và tiền lãi là 20.841.972 (Hai mươi triệu tám trăm bốn mươi mốt ngàn chín trăm bảy mươi hai) đồng. Yêu cầu bà P phải thanh toán một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, không yêu cầu bị đơn trả tiền phạt và tiền lãi chậm thanh toán đến ngày xét xử sơ thẩm và đồng thời Công ty không yêu cầu bà P trả lãi phát sinh do chậm thi hành án.
Bị đơn là bà Vũ Thị P vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình Tòa án thụ lý vụ án đến khi xét xử dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ.
Tại phiên Tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu buộc bị đơn là bà Vũ Thị P trả cho nguyên đơn tổng cộng số tiền bao gồm cả gốc và lãi là: 46.859.035 (Bốn mươi sáu triệu tám trăm năm mươi chín ngàn không trăm ba mươi lăm) đồng. Trong đó số tiền nợ gốc còn lại là: 26.017.063 (Hai mươi sáu triệu không trăm mười bảy ngàn không trăm sáu mươi ba) đồng và tiền lãi là 20.841.972 (Hai mươi triệu tám trăm bốn mươi mốt ngàn chín trăm bảy mươi hai) đồng. Yêu cầu bà P phải thanh toán một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, không yêu cầu bị đơn trả tiền phạt và tiền lãi chậm thanh toán đến ngày xét xử sơ thẩm và đồng thời Công ty không yêu cầu bà P trả lãi phát sinh do chậm thi hành án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách pháp lý cũng như thời hạn gửi các văn bản tố tụng, hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu. Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Vũ Thị P phải có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn tổng cộng số tiền bao gồm cả gốc và lãi là: 46.859.035 (Bốn mươi sáu triệu tám trăm năm mươi chín ngàn không trăm ba mươi lăm) đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Toà án: Bà Vũ Thị P có vay tiền qua việc ký hợp đồng tín dụng số 20150904-500000-0176 ngày 28/8/2015 với Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam V, do đó có cơ sở xác định giữa bà P và Công ty có giao kết hợp đồng dân sự vay tài sản, đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng. Do bà P cư trú tại địa chỉ: số 3/39 đường Thống Nhất, Phường 15, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về người tham gia tố tụng: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam V là ông Nguyễn Thanh Vũ có mặt tại phiên toà. Bị đơn bà Vũ Thị P đã được Toà án triệu tập hợp lệ từ khi thụ lý đến khi xét xử nhưng bà P vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
. Về yêu cầu của các đương sự:
Xét yêu cầu của nguyên đơn Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam V buộc bà Vũ Thị P trả cho Công ty số tiền nợ gốc và lãi, tổng cộng là 46.859.035 (Bốn mươi sáu triệu tám trăm năm mươi chín ngàn không trăm ba mươi lăm) đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy, căn cứ vào lời trình bày của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện giữa Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam V và bị đơn bà Vũ Thị P có ký Hợp đồng tín dụng số 20150904-500000-0176 ngày 28/8/2015 với nội dung như sau: Số tiền vay là: 26.375.000 (Hai mươi sáu triệu ba trăm bảy mươi lăm ngàn) đồng với lãi suất thỏa thuận 3.75%/tháng, mục đích vay để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, bà P có trách nhiệm thanh toán số tiền 48.492.000 (Bốn mươi tám triệu bốn trăm chín mươi hai ngàn) đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 36 tháng; 35 tháng đầu, mỗi tháng trả 1.347.000 (Một triệu ba trăm bốn mươi bảy ngàn) đồng, tháng cuối cùng trả 1.347.000 (Một triệu ba trăm bốn mươi bảy ngàn) đồng. Thanh toán vào ngày 07 hàng tháng. Bắt đầu từ ngày 07/10/2015.
Thực hiện hợp đồng, bà P đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và thanh toán cho Công ty tài chính 01 lần với tổng số tiền đã đã trả 1.347.000 (Một triệu ba trăm bốn mươi bảy ngàn) đồng. Kể từ ngày 25/12/2015 đến nay bà P không thanh toán thêm bất cứ khoản nào dù Công ty đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở bà P thanh toán số tiền nợ còn lại nhưng bà P vẫn không trả. Do bà P vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Công ty khởi kiện yêu cầu bị đơn bà P trả nợ là có căn cứ.
Về lãi suất: Theo hợp đồng thoả thuận, bà P phải thanh toán cho Công ty số tiền nợ gốc và lãi tính theo lãi suất thoả thuận trong hợp đồng là 3.75%/tháng. Đây là sự tự nguyện thoả thuận của các bên phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng quy định như sau: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thoả thuận về lãi suất” nên có căn cứ chấp nhận.
Xét thấy, do bà P vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Buộc bà Vũ Thị P phải thanh toán cho Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam V số tiền bao gồm cả gốc và lãi tổng cộng là: 46.859.035 (Bốn mươi sáu triệu tám trăm năm mươi chín ngàn không trăm ba mươi lăm) đồng. Trong đó số tiền nợ gốc còn lại là: 26.017.063 (Hai mươi sáu triệu không trăm mười bảy ngàn không trăm sáu mươi ba) đồng và lãi là 20.841.972 (Hai mươi triệu tám trăm bốn mươi mốt ngàn chín trăm bảy mươi hai) đồng. Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty không yêu cầu bà P phải trả tiền phạt, tiền lãi do chậm thanh toán tính đến ngày xét xử sơ thẩm và tiền lãi phát sinh do chậm thi hành án.
. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu của nguyên đơn Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam V được chấp nhận nên bị đơn bà Vũ Thị P phải chịu toàn bộ án phí dân sự là 2.342.952 (Hai triệu ba trăm bốn mươi hai ngàn chín trăm năm mươi hai) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 150, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 471 và Điều 474 của Bộ luật Dân sự 2005;
Căn cứ Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ các Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng;
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam V.
Buộc bà Vũ Thị P phải trả cho Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam V tổng số tiền bao gồm nợ gốc và lãi là 46.859.035 (Bốn mươi sáu triệu tám trăm năm mươi chín ngàn không trăm ba mươi lăm) đồng. Trong đó số tiền nợ gốc còn lại là: 26.017.063 (Hai mươi sáu triệu không trăm mười bảy ngàn không trăm sáu mươi ba) đồng và tiền lãi là 20.841.972 (Hai mươi triệu tám trăm bốn mươi mốt ngàn chín trăm bảy mươi hai) đồng, thanh toán làm một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam V không yêu cầu bị đơn bà Vũ Thị P phải trả tiền phạt, tiền lãi do chậm thanh toán tính đến ngày xét xử sơ thẩm và tiền lãi phát sinh do chậm thi hành án.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Vũ Thị P phải chịu án phí là: 2.342.952 (Hai triệu ba trăm bốn mươi hai ngàn chín trăm năm mươi hai) đồng.
Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam V được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.082.380 (Một triệu không trăm tám mươi hai ngàn ba trăm tám mươi) đồng theo biên lai thu số AA/2017/0028279 ngày 28/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam V có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn bà Vũ Thị P có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt, niêm yết bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND quận Gò Vấp; - Chi cục THADS quận Gò Vấp; - Các đương sự; - Lưu VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Mộng Tuyền |