vanban.org

Bản án 363/2025/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 07/08/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/08/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Hữu T và các bị hại Bùi Minh A, Trần Linh Đ cùng người đại diện hợp pháp, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 102/2025/HS-ST ngày 18 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay thuộc Toà án…

Tuyên bố: bị cáo Trần Hữu T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 102/2025/HS-ST ngày 18 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hữu T - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Hữu T và các bị hại Bùi Minh A, Trần Linh Đ cùng người đại diện hợp pháp, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 102/2025/HS-ST ngày 18 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay thuộc Toà án…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 363/2025/HS-PT
Ngày: 07/8/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Bắc

Các Thẩm phán:

Ông Bùi Thái Hùng

Ông Hoàng Trí Thức

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Đài Trang - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 99/2025/TLPT-HS ngày 30 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Trần Hữu T do có kháng cáo của bị cáo và các bị hại Trần Linh Đ, Bùi Minh A cùng người đại diện hợp pháp đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 102/2025/HS-ST ngày 18 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay thuộc Toà án nhân dân khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh).

Bị cáo có kháng cáo: Trần Hữu T, sinh năm 1992 tại Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là Thành phố Hồ Chí Minh); Thường trú: ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là xã L, Thành phố Hồ Chí Minh); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Trần Hữu T1 và bà Nguyễn Thị S; có vợ là Nguyễn Thị Cẩm T2 và 02 con, lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2024.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 12/3/2019, bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo Bản án số 39/2019/HS-ST ngày 12/3/2019. Chấp hành xong hình phạt ngày 30/11/2019.

Bị bắt ngày 24/11/2024 đến ngày 02/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại. (có mặt)

Bị hại có kháng cáo:

+ Cháu Bùi Minh A, sinh năm 2009; Người đại diện hợp pháp của bị hại là cha mẹ ruột: Bà Trần Thị H và ông Bùi Văn P.

Cùng địa chỉ: 3 B, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). (vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)

+ Cháu Trần Linh Đ, sinh năm 2011; Người đại diện hợp pháp của bị hại là cha mẹ ruột: Bà Nguyễn Thị Kiêm L và ông Trần Gia P1

Cùng địa chỉ: C B, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). (vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)

Ngoài ra, trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo, không liên quan đến nội dung kháng cáo nên Toà án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01h30’ ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại khu vực trụ đèn trang trí số 318 đường C, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Trần Hữu T điều khiển xe ô tô biển số 72A- 607.02 lưu thông trên đường C hướng từ khu S về vòng xoay đường C + Cửa Lấp, khi đến khu vực nêu trên đã xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 72C1-779.72 do cháu Bùi Minh A, sinh ngày 03-4-2009, trú tại 3 B, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu điều khiển chở theo sau là cháu Trần Linh Đ, sinh ngày 11-7-2011, trú tại C B, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đang qua đường từ trái qua phải theo chiều ô tô lưu thông. Hậu quả: Cháu Bùi Minh A bị tổn thương cơ thể 20%; cháu Trần Linh Đ bị tổn thương cơ thể 55%. Xe mô tô và xe ô tô đều bị hư hỏng nặng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, trưng cầu giám định để xác định tốc độ xe ô tô ngay trước khi xảy ra tại nạn và tại thời điểm xảy ra tai nạn; xác định dấu vết va chạm giữa hai xe; giám định tỷ lệ thương tích của cháu Bùi Minh A và cháu Trần Linh Đ; định giá tài sản bị thiệt hại.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:

- Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại khu vực trụ đèn trang trí số 318 Đường C, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Đây là đoạn đường thẳng, bằng phẳng, được trải bê tông nhựa, giữa đường có dải phân cách cứng phân chia làm hai chiều hướng xe chạy riêng biệt, mỗi chiều đường có dải phân cách cứng phân chia làn đường dành cho xe ô tô và xe mô tô. Khu vực nơi xảy ra tai nạn là đoạn mở của dải phân cách cứng giữa đường và dải phân cách phân làn xe, có biển báo cho phép quay đầu xe và biển báo “cấm đi ngược chiều”; thuộc khu vực theo chiều đường hướng từ khu S về vòng xoay đường C + Cửa Lấp; làn đường ô tô có độ rộng là 10,6m; làn đường mô tô có độ rộng là 4,2m.

Chọn mép đường bên phải của đường C theo hướng từ khu S về vòng xoay đường C + Cửa Lấp là mép đường chuẩn, tất cả các số đo đều được đo vào mép đường chuẩn và chọn cột trụ đèn trang trí 318 trên dải phân cách phân chia làn đường ô tô và mô tô thuộc chiều đường từ khu S về vòng xoay đường C + Cửa Lấp là điểm mốc.

Mô tả hiện trường:

Số thứ tự 01 là xe ô tô biển số 724-607.02: Sau tai nạn dừng lại trên làn đường dành cho ô tô thuộc chiều đường từ khu S về vòng xoay đường C + Cửa Lấp; đầu xe hướng về khu vòng xoay đường C + C; đuôi xe hướng về khu S. T3 trục bánh trước bên phải cách mép đường chuẩn là 6,2m. T3 trục bánh sau bên phải cách mép đường chuẩn là 6m.

Số thứ tự 02 là vị trí xe mô tô biển số 72C1-779.72: Sau tai nạn đổ ngã nghiêng bên phải trên làn đường dành cho xe mô tô thuộc chiều đường từ khu S về vòng xoay đường C + Cửa Lấp; đầu xe hướng vào dải phân cách cứng; đuôi xe hướng chếch về mép đường chuẩn. T3 trục bánh trước bên phải cách mép đường chuẩn là 2,65m và cách tâm trục bánh sau bên trái xe ô tô biển số 72A-607.02 là 21m.

Số thứ tự 03 là vị trí gốc trụ báo hiệu: Gốc trụ báo hiệu nằm trên đầu dải phân cách cứng phân chia làn đường ô tô và mô tô, thuộc chiều đường từ khu S về vòng xoay đường C + Cửa Lấp; T3 gốc trụ báo hiệu cách mép đường chuẩn là 4,8m và cách gác chân trước bên phải xe mô tô biển số 72C1-779.72 là 10,4m.

Số thứ tự 04 là vị trí vệt dung dịch màu nâu đen: Đầu vệt dung dịch màu nâu đen nằm trên làn đường dành cho xe ô tô thuộc chiều đường từ khu S về vòng xoay đường C + Cửa Lấp; vệt loang kéo dài đến vị trí số 01 (xe ô tô biển số 72A-607.02); cách mép đường chuẩn là 8,1m.

Số thứ tự 05 là vị trí đầu vết cày: Vị trí đầu vết cày in trên mặt đường làm đứt quãng trượt hướng tới vị trí số 3 (vị trí gốc trụ báo hiệu) trên làn đường dành cho xe ô tô thuộc chiều đường từ khu S về vòng xoay đường C + Cửa Lấp; đầu vết cày đến cách mép đường chuẩn là 8,5m.

Số thứ tự 06 là vị trí khu vực điểm va chạm: Sau khi khám nghiệm các dấu vết trên hiện trường và trên phương tiện thì điểm va chạm được xác định trên mặt đường C làn đường dành cho xe ô tô thuộc chiều đường từ khu S về vòng xoay đường C + Cửa Lấp. Từ khu vực điểm va chạm đến mép đường chuẩn là 8,9m; đo đến điểm mốc là 11,3m; đo đến gác chân trước bên trái xe ô tô biển số 72A607.02 là 41,6m; đo đến gác chân trước bên trái xe mô tô biển số 72C1-779.72 là 20,9m; đo đến vị trí gốc trụ báo hiệu là 11,3m; do đến đầu dung dịch màu nâu đen là 4m; đo đến đầu vết cày là 1m.

Kết quả làm việc với những người liên quan:

Ngay sau tai nạn xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã tiến hành đưa Trần Hữu T đi xét nghiệm máu tại Bệnh viện V xác định không có nồng độ cồn và ma túy trong máu của T. Trần Hữu T xuất trình 01 giấy phép lái xe hạng B2 số 790150083980 do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 21-12-2022, đủ điều kiện để điều khiển xe ô tô biển số 72A-607.02.

Cháu Bùi Minh A và cháu Trần Linh Đ khai do muốn đi chơi đêm khuya, cháu Đ biết cháu Minh A điều khiển được xe mô tô nên cháu Linh Đ lấy chìa khóa xe mô tô biển số 72C1-779.72 của gia đình giao cho cháu Minh A để điều khiển mà không hỏi ý kiến của cha mẹ là ông Trần Gia P1 và bà Nguyễn Thị Kiêm L, quá trình cháu Minh A điều khiển xe mô tô biển số 72C1-779.72 chở theo sau cháu Trần Linh Đ đến đoạn đường C thì chuyển hướng qua đường dẫn đến va chạm với xe ô tô biển số 72A-607.02 do Trần Hữu T điều khiển gây tai nạn. Chủ xe mô tô biển số 72C1-779.72 là bà Nguyễn Thị Kiêm L (mẹ của cháu Đ) trình bày cháu Đ chưa đủ tuổi để thi bằng lái xe A1 đồng thời vào thời điểm xảy ra tai nạn là khoảng 01 giờ 24 phút ngày 11-7-2024 tức vào khuya, rạng sáng của ngày nên không có sự việc giao xe cho cháu Đ hoặc cháu Minh A.

Căn cứ vào giấy khai sinh số 16/2009 của cháu Bùi Minh A, sinh ngày 03-4-2009 được đăng ký ngày 09-5-2009 là khai sinh đúng hạn, tại thời điểm cháu Minh A điều khiển xe mô tô biển số 72C1-779.72 thì cháu Minh A được 15 tuổi 03 tháng 08 ngày.

* Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 323/KLTTCT-PYBRVT ngày 30-8-2024 của Phòng K Công an tỉnh B xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của cháu Bùi Minh A tại thời điểm giám định là: 20% (Hai mươi phần trăm).

* Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 391/KLTTCT-PYBRVT ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh B xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của cháu Trần Linh Đ tại thời điểm giám định là: 55% (Năm mươi lăm phần trăm).

* Bản kết luận giám định số 237/KL-KTHS-DVCH ngày 09-8-2024 của Phòng K Công an tỉnh B:

1. Có sự va chạm giữa xe ô tô biển số 72A-607.02 với xe mô tô biển số 72C1-779.72.

2. Vị trí va chạm, chiều hướng dấu vết va chạm giữa xe ô tô biển số 72A-607.02 với xe mô tô biển số 72C1-779.72: Các dấu vết gãy vỡ, biến dạng tại khu vực đầu xe bên phải của xe ô tô biển số 72A-607.02, chiều từ trước về sau (ảnh 4,5,6 trong bản ảnh giám định) phủ hợp với các dấu vết gãy vỡ biến dạng tại khu vực bánh sau bên phải; cụm động cơ, ống giảm thanh, khung sườn nối từ động cơ đến trục bánh sau bên phải chiều từ phải sang trái, từ trước về sau của xe mô tô biển số 72C1-779.72 (ảnh 10,11,12 trong bản ảnh giám định).

3. Xe ô tô biển số 72A-607.02 di chuyển gần vuông góc với xe mô tô biển số 72C1-779.72

* Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 144/KL-HĐĐG-TTHS ngày 17-10-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự: các tài sản thiệt hại của xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Santafe, BKS 72A-607.02 là 287.639.086 đồng.

* Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 148/KL-HĐĐG-TTHS ngày 25/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH MODE, BKS 72C1-779.72 là 15.500.000 đồng.

Nguyên nhân của vụ tai nạn giao thông: Trần Hữu T điều khiển xe ô tô BKS 72A-607.02 lưu thông trên đường đến nơi có biển báo chỉ dẫn được phép quay đầu nhưng khi thấy xe mô tô phía trước đang chuyển hướng qua đường từ trái qua phải nhưng không giảm tốc độ mà vẫn tiếp tục tăng tốc từ 123km/h lên 124km/h đồng thời đánh lái chuyển từ làn đường bên trái qua làn đường bên phải để vượt qua xe mô tô trên dẫn đến không làm chủ được tốc độ tay lái va chạm với xe mô tô biển số 72C1-779.72 do cháu Bùi Minh A điều khiển chở theo sau cháu Trần Linh Đ đã vi phạm khoản 23 Điều 8 và khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ. Cháu Bùi Minh A điều khiển xe mô tô biển số 72C1-779.72 không có giấy phép lái xe hạng A1, vi phạm chuyển hướng xe quy định tại khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ. Hậu quả: Cháu Bùi Minh A bị tổn thương cơ thể 20%; cháu Trần Linh Đ bị tổn thương cơ thể 55%. Xe mô tô và xe ô tô đều bị hư hỏng nặng.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Trần Hữu T, bị hại cháu Bùi Minh A, cháu Trần Linh Đ, ông Trần Gia P1, bà Nguyễn Thị Kiêm L đã khai nhận như trên.

* Vật chứng vụ án:

- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã trả lại tài sản: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda SH MODE, BKS 72C1-779.72; Số khung: RLHJF512XFY124190; Số máy: JF51E0347771; cho chủ xe là bà Nguyễn Thị Kiêm L; 01 (Một) xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Santafe, BKS 72A-607.02; Số khung: RLUSW81KDNN036021; Số máy: G4KMNA200543 và 01 (Một) giấy CNĐK số 2098968 của xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Santafe, BKS 72A-607.02 cho bà Nguyễn Thị Cẩm T2.

- Chuyển theo hồ sơ vụ án: 01 (Một) giấp phép lái xe hạng B2 số 790150083980 do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 21-12-2022; 01 (Một) camera hành trình nhãn hiệu “JASSD” “JAPAN SOLUTION”, phía trước camera có dán chữ “AF6-220041” (bên trong có gắn thẻ nhớ) được gắn trên xe ô tô biển số 72A- 607.02.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Hữu T đã bồi thường thiệt hại cho gia đình cháu Trần Linh Đ và cháu Bùi Minh A nhằm khắc phục hậu quả của vụ tai nạn giao thông trên. Bà Trần Thị H là mẹ ruột của cháu Bùi Minh A và ông Trần Gia P1 là cha ruột của cháu Trần Linh Đ đã nhận tiền bồi thường và không yêu cầu gì thêm.

2. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 102/2025/HS-ST ngày 18 tháng 4 năm 2025, Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh) đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Trần Hữu T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Hữu T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giam từ 24/11/2024 đến ngày 02/01/2025.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

3. Ngày 23/4/2025, bị cáo Trần Hữu T kháng cáo xin hưởng án treo; các bị hại Trần Linh Đ, Bùi Minh A cùng người đại diện hợp pháp kháng cáo đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.

4. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị hại cùng người đại diện hợp pháp kháng cáo vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin hưởng án treo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

5. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xét xử vụ án:

Về tố tụng: Các bị hại cùng người đại diện hợp pháp và bị cáo có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung: Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Trần Hữu T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; xử phạt bị cáo 15 (Mười lăm) tháng tù là phù hợp với nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị hại cùng người đại diện hợp pháp kháng cáo đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị cáo có xuất trình tài liệu mới thể hiện việc các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo hưởng án treo, bị cáo là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, nuôi dưỡng cha già và 02 con nhỏ sinh năm 2020 và 2024, làm căn cứ cho việc kháng cáo xin hưởng án treo. Tuy nhiên, mức án Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp với tình chất mức độ và nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và các bị hại cùng người đại diện hợp pháp, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

6. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, nói lời sau cùng thể hiện thái độ ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Kháng cáo của các bị hại cùng người đại diện hợp pháp và bị cáo làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định của pháp luật về chủ thể, hình thức và nội dung đơn kháng cáo, là kháng cáo hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Bị hại Bùi Minh A, Trần Linh Đ cùng người đại diện hợp pháp vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các bị hại Bùi Minh A, Trần Linh Đ cùng người đại diện hợp pháp.

Về tội danh và Điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, lời khai của bị hại và những người tham gia tố tụng khác trong suốt quá trình tố tụng, biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, giám định pháp y, định giá tài sản, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Từ đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 01h30’ ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại khu vực trụ đèn trang trí số 318 đường C, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh), bị cáo Trần Hữu T điều khiển xe ô tô biển số 72A-607.02 với vận tốc từ 123 – 124km/h lưu thông trên đường C theo hướng đi từ Khu S về vòng xoay 3/2, Cửa L1; đã va chạm với xe mô tô biển số 72C1-779.72 do cháu Bùi Minh A điều khiển (không có giấy phép lái xe hạng A1, vi phạm chuyển hướng xe theo quy định tại khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ) chở theo sau là cháu Trần Linh Đ đang qua đường từ trái qua phải theo chiều ô tô lưu thông; do bị cáo T không làm chủ được tốc độ và tay lái. Hậu quả vụ tai nạn: cháu Bùi Minh A bị thương tích 20%, cháu Trần Linh Đ bị thương tích 55%, xe ô tô và xe mô tô hư hỏng nặng. Nguyên nhân chính của vụ tai nạn giao thông là do bị cáo Trần Hữu T điều khiển xe ô tô tốc độ cao 123km/h - 124km/h trên đoạn đường cho phép tốc độ tối đa 90km/h dẫn đến không làm chủ được tốc độ tay lái để xảy ra va chạm, vi phạm khoản 23 Điều 8 và khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ. Nguyên nhân khác là do bị hại cháu Bùi Minh A điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định, vi phạm chuyển hướng xe theo quy định tại khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ.

Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Trần Hữu T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự, là có căn cứ và đúng pháp luật.

. Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo và kháng cáo đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo của các bị hại cùng người đại diện hợp pháp:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn giao thông, gây thiệt hại về sức khỏe cho người khác và thiệt hại về tài sản, gây hoang mang lo lắng cho cộng đồng. Bị cáo điều khiển xe ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ lưu thông trên đường nhưng không tuân thủ đúng quy định pháp luật về giao thông, vô ý do cẩu thả gây tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể 75% cho hai bị hại. Vì vậy, phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện, để đảm bảo tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung, đồng thời nêu cao tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho các bị hại theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Hữu T 15 (Mười lăm) tháng tù. Tại phiên toà phúc thẩm, bị hại cùng người đại diện hợp pháp kháng cáo vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị cáo cung cấp chứng cứ thể hiện việc các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo hưởng án treo, bị cáo là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, nuôi dưỡng cha già và 02 con nhỏ sinh các năm 2020, 2024, làm căn cứ cho việc kháng cáo xin hưởng án treo.

Tuy nhiên, mức án Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp với tính chất mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trong vụ án, đã thể hiện được sự khoan hồng và tính nghiêm minh của pháp luật. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử quyết định không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và bị hại cùng người đại diện hợp pháp về việc cho bị cáo được hưởng án treo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Hữu T và các bị hại Bùi Minh A, Trần Linh Đ cùng người đại diện hợp pháp, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 102/2025/HS-ST ngày 18 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay thuộc Toà án nhân dân khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh).

Tuyên bố: bị cáo Trần Hữu T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Hữu T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời giam giữ từ ngày 24/11/2024 đến ngày 02/01/2025.

2. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 102/2025/HS-ST ngày 18 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa

- Vũng Tàu (cũ) không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Hữu T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (07/8/2025).

Cỡ chữ