- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? 47/2010/QH12 ngày 17/6/2010 và được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng; Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 363/2022/DS-ST Ngày 29-9-2022 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Tuyết Mai.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Thành Viên.
Ông Nguyễn Văn Soan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh, Thư ký Tòa án nhân dân
quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí
Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn thị Hải Oanh – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp,
Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:
368/2020/TLST-DS ngày 02 tháng 10 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng tín
dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 381/2022/QĐXXST-DS ngày
16 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 322/2022/QĐST-DS
ngày 07 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S; trụ sở: Đường A,
Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Đức T, sinh năm:
1984; địa chỉ: Đường A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; là
người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền số
455/2020/UQ-TTT ngày 26/8/2020) (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Hoàng Anh C, sinh năm: 1979; địa chỉ: Đường D (Số cũ
Đường Đ), Phường E, quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 26/8/2020, trong quá trình tố tụng và tại phiên
tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S trình bày như sau:
Vào ngày 05/9/2008, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và ông Hoàng
Anh C có ký Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (Bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Căn cứ thu nhập của ông C, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng Visa Parkson 464932-2345 với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng. Đến ngày 12/12/2012, ông C đăng ký thêm thẻ Family Local Credit 970403-0700 với hạn mức sử dụng chung là 20.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông C đã thực hiện các giao dịch với tổng
số tiền là 117.217.551 đồng (Trong đó thẻ Visa Parkson 464932-2345 là 95.917.551 đồng, thẻ Family Local Credit 970403-0700 là 21.300.000 đồng). Trong quá trình sử dụng thẻ, ông C đã thanh toán cho ngân hàng số tiền là 162.122.000 đồng (Trong đó thẻ Visa Parkson 464932-2345 là 132.721.000 đồng, thẻ Family Local Credit 970403-0700 là 29.401.000 đồng - Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông C vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông C vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng) nên ngày 26/4/2019, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Hoàng Anh C
phải có nghĩa vụ thanh toán một lần ngay khi bản án của Toà án có hiệu lực pháp luật tổng số tiền còn nợ là 25.104.195 (Hai mươi lăm triệu một trăm lẻ bốn ngàn một trăm chín mươi lăm) đồng, trong đó: Nợ gốc là: 9.051.729 đồng, nợ lãi là 16.052.466 đồng (tính đến ngày 29/9/2022). Ông Hoàng Anh C còn phải tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 30/9/2022 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại các hợp đồng đã ký kết.
Bị đơn là ông Hoàng Anh C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần
để tham gia phiên tòa nhưng ông Hoàng Anh C vẫn vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí
Minh phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử,
Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn được thực hiện đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên
đơn. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào phát biểu ý kiến của Kiểm sát
viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn, có cơ sở xác định đây là tranh
chấp về hợp đồng tín dụng. Do bị đơn hiện có đăng ký hộ khẩu thường trú tại
quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy
định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là
ông Trần Đức T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và bị đơn là ông Hoàng Anh
C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không
có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Trần Đức T và ông Hoàng
Anh C theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
Theo các Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ngày 05/9/2008 và
12/12/2012 (Bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản
điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) có
hình thức và nội dung phù hợp quy định của Bộ luật Dân sự 2015 nên căn cứ
các quy định của Bộ luật Dân sự 2015 để giải quyết vụ án.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Xét thấy các Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ngày 05/9/2008 và
12/12/2012 (Bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản
điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng)
được các bên ký kết trên tinh thần tự nguyện, nội dung hợp đồng tín dụng phù
hợp với các quy định của pháp luật tại các Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức
tín dụng năm 2010 và được sửa đổi, bổ sung năm 2017, không trái đạo đức xã
hội, vì vậy hợp đồng tín dụng này có hiệu lực pháp luật.
- Ngân hàng đã đồng ý cấp 02 thẻ tín dụng (gồm thẻ Visa Parkson
464932-2345 và thẻ Family Local Credit 970403-0700) cho ông Hoàng Anh
C với hạn mức sử dụng chung là 20.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá
nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông C đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 117.217.551 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, ông C đã thanh toán cho ngân hàng số tiền là 162.122.000 đồng (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Cvẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông C vi phạm nghĩa vụ về thời gian thanh toán nợ gốc theo hợp đồng đã ký kết nên nguyên đơn yêu cầu buộc ông C phải trả số tiền nợ gốc là 9.051.729 đồng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét về yêu cầu tính lãi suất:
Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12
ngày 17/6/2010 và được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: “… Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.
Căn cứ Thông tư 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 hướng dẫn Tổ
chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận.
Căn cứ Thông tư 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 quy định về hoạt
động thẻ Ngân hàng.
Hội đồng xét xử nhận thấy việc thỏa thuận lãi suất giữa các bên là phù
hợp với quy định của pháp luật. Theo đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền lãi tính đến ngày 29/9/2022 là 16.052.466 đồng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về phương thức và thời hạn thanh toán: Xét, ông Hoàng Anh C đã
vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo như thỏa thuận đã ký kết giữa các bên, gây thiệt hại rất nhiều cho nguyên đơn. Do đó, nguyên đơn yêu cầu thanh toán một lần toàn bộ số tiền nợ nêu trên ngay khi bản án của Toà án có hiệu lực pháp luật là phù hợp với quy định của pháp luật và để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2
Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc ông Hoàng Anh C phải chịu 1.255.210 (Một triệu hai trăm năm mươi lăm ngàn hai trăm mười) đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a
khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 267, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào Điều 466, Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng số
47/2010/QH12 ngày 17/6/2010 và được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 hướng dẫn Tổ
chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất
thỏa thuận;
Căn cứ Thông tư 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 quy định về hoạt
động thẻ Ngân hàng;
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và khoản 2
Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại
Cổ phần S:
Buộc bị đơn ông Hoàng Anh C phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ
phần S tổng số tiền là 25.104.195 (Hai mươi lăm triệu một trăm lẻ bốn ngàn
một trăm chín mươi lăm) đồng, trong đó: Nợ gốc là: 9.051.729 đồng, nợ lãi là
16.052.466 đồng (tính đến ngày 29/9/2022).
Phương thức và thời hạn thanh toán: Một lần ngay khi bản án của Toà án
có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải
tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo
mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán
xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa
thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho
vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng
cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với
sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Về án phí: Ông Hoàng Anh C phải chịu 1.255.210 (Một triệu hai trăm
năm mươi lăm ngàn hai trăm mười) đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh
chấp về dân sự.
Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí
là 382.418 (Ba trăm tám mươi hai ngàn bốn trăm mười tám) đồng theo Biên
lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2019/0027039 ngày 02/10/2020
của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp
luật.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND quận Gò Vấp; - Chi cục THADS quận Gò Vấp; - Các đương sự; - Lưu: VP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Tuyết Mai |