vanban.org

Bản án 363/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật phí, lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30

tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Luật phí, lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30
  • Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒ TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 363/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 24-4-2018
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Tuấn Nhu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Xuân Thảo

2. Bà Phạm Thị Trịnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đài Trang - Thư ký Tòa án nhân dân

quận Tân Bình.

Ngày 24 tháng 4 năm 2018 tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành

phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 890/2017/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trương Thị Kim K, năm sinh 1982; địa chỉ: Số 49/11

Đường M (số cũ 2225A1 Đường L), Phường U, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Hồ Xuân T, năm sinh 1982; nơi cư trú cuối cùng: Số 49/11

Đường M (số cũ 2225A1 Đường L), Phường U, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Trương Thị Kim K trình bày: Bà Trương Thị Kim K và

ông Hồ Xuân T kết hôn với nhau vào năm 2011 tại Ủy ban nhân dân Phường U, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên ông Hồ Xuân T bỏ nhà đi từ giữa năm 2014. Bà Trương Thị Kim K đã liên hệ với hai bên gia đình cũng như người thân nhưng đều không biết ông Hồ Xuân T

1

đang ở đâu và đến năm 2017 thì bà Trương Thị Kim K đã làm đơn yêu cầu tuyên bố ông Hồ Xuân T mất tích. Tại quyết định số 243/2017/QĐDS-ST ngày 16/6/2017 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình đã tuyên bố ông Hồ Xuân T mất tích. Nay nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt và để ổn định cuộc sống nên bà Trương Thị Kim K yêu cầu ly hôn ông Hồ Xuân T.

Về con chung: Bà Trương Thị Kim K và ông Hồ Xuân T có 02 người con

chung tên Hồ Bảo N, ngày sinh 09 tháng 02 năm 2012 và Hồ Xuân P, ngày sinh 15 tháng 01 năm 2014. Ly hôn, bà Trương Thị Kim K yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu ông Hồ Xuân T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà Trương Thi Kim K khai không có, không yêu cầu

Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà Trương Thị Kim K khai không có, không yêu cầu Tòa

án giải quyết.

Bị đơn ông Hồ Xuân T vắng mặt tại các buổi làm việc, phiên họp kiểm tra

việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải của Tòa án và cũng không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông Hồ Xuân T.

Tại phiên tòa, bà Trương Thị Kim K vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày

về quan hệ hôn nhân, quan hệ con chung, tài sản chung và nợ chung.

Ông Hồ Xuân T vắng mặt không lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt

quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại

phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp: Bà Trương Thị Kim K yêu cầu ly hôn ông Hồ

Xuân T. Hội đồng xét xử xét thấy đây là quan hệ ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về thẩm quyền: Ông Hồ Xuân T có nơi cư trú cuối cùng tại số 49/11

Đường M (số cũ 2225A1 Đường L), Phường U, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bà Trương Thị Kim K khởi kiện ông Hồ Xuân T tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình là đúng quy định của pháp luật.

Xét trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Hồ

Xuân T đến Tòa án để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng ông Hồ Xuân T vắng mặt không lý do. Căn cứ vào khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227

2

của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Hồ Xuân T.

Xét quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Kim K và ông Hồ Xuân T tự

nguyện đăng ký kết hôn, theo giấy chứng nhận kết hôn số 228, quyển số 02/2011 ngày 08/9/2011 do Ủy ban nhân dân Phường U, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét bà Trương Thị Kim K và ông Hồ Xuân T chung sống với nhau

không hạnh phúc, ông Hồ Xuân T bỏ nhà đi từ giữa năm 2014. Năm 2017, bà Trương Thị Kim K yêu cầu tuyên bố ông Hồ Xuân T mất tích và kể từ ngày Tòa án tuyên bố ông Hồ Xuân T mất tích thì bà Trương Thị Kim K cũng không biết tin tức gì về ông Hồ Xuân T và để ổn định cuộc sống nên bà Trương Thị Kim K yêu cầu ly hôn với ông Hồ Xuân T. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà Trương Thị Kim K ly hôn ông Hồ Xuân T.

Xét quan hệ con chung: Có 02 người con chung tên Hồ Bảo N, ngày

sinh 09 tháng 02 năm 2012 và Hồ Xuân P, ngày sinh 15 tháng 01 năm 2014. Bà Trương Thị Kim K yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu ông Hồ Xuân T cấp dưỡng nuôi con. Bà Trương Thị Kim K hiện đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung. Đồng thời, ông Hồ Xuân T đã bị Tòa án tuyên bố mất tích nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Trương Thị Kim K được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 người con chung tên Hồ Bảo N, ngày sinh 09 tháng 02 năm 2012 và Hồ Xuân P, ngày sinh 15 tháng 01 năm 2014 cho đến khi các con chung lần lượt thành niên là có căn cứ.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trương Thị Kim K khai không có,

không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Trương Thị Kim K phải

chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1

Điều 39, Điều 68, khoản 1 Điều 147, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 227, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Điều 8, Điều 9, khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81,

Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Luật phí, lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30

tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ

3

nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Kim K ly hôn ông Hồ Xuân T.

2. Về con chung: Giao bà Trương Thị Kim K trực tiếp chăm sóc, nuôi

dưỡng 02 người con chung tên Hồ Bảo N, ngày sinh 09 tháng 02 năm 2012 và Hồ Xuân P, ngày sinh 15 tháng 01 năm 2014. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông Hồ Xuân T do bà Trương Thị Kim K không yêu cầu.

Khi có lý do chính đáng mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể

thay đổi.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà

không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở

người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo qui

định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

3. Về tài sản chung: Không có.

4. Về nợ chung: Không có.

5. Về án phí: Bà Trương Thị Kim K chịu án phí ly hôn sơ thẩm 300.000

(Ba trăm nghìn) đồng, được cấn trừ vào 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí do bà Trương Thị Kim K đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0006843 ngày 19 tháng 9 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

6. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà Trương Thị Kim K được quyền

kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Hồ Xuân T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Tòa án niêm yết hợp lệ bản án.

Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được

quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2

Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a, 7b

4

và 9 Luật thi hành án dân sự (Sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ