vanban.org

Bản án 362/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim T được ly hôn với ông Nguyễn Phúc Đ (Giấy chứng nhận kết hôn số 46, quyền số 01/2013 ngày 16/8/2013 do Ủy ban nhân dân Phường A, quận F, Thành phố Hồ Chí Minh cấp). Về con chung: Bà Nguyễn Thị Kim T và ông Nguyễn Phúc Đ có 01 con chung tên Nguyễn Thanh L, sinh … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN PHÚ NHUẬN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 362/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 27/5/2022
V/v tranh chấp : Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Mỹ

2. Ông Nguyễn Văn Thịnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thức – Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận – Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Phượng – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 469/2022/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2021 về việc tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2022/QĐST-HNGĐ ngày 08/4/2022 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/5/2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Phường A, quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tạm trú: Phường A, quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Phúc Đ, sinh năm 1973.

Địa chỉ: Phường A, quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Tất cả đương sự vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn xin ly hôn và các biên bản tiếp theo sau đó, bà Nguyễn Thị Kim T trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Đ sống chung với nhau từ tháng 5/2013 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình chung sống giữa hai bên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, lối sống. Do không giải quyết được mâu thuẫn nên bà cùng con chung đã ra ngoài thuê nhà để ở từ tháng 10/2021. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt, cả hai không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên bà vẫn giữ yêu cầu xin được ly hôn với ông Đ để ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Bà và ông Đ chung sống với nhau có 01 con chung tên Nguyễn Thanh L, sinh ngày 30/7/2018. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi trẻ Nguyễn Thanh L. Việc cấp dưỡng nuôi con chung, ông bà tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà và ông Nguyễn Phúc Đ không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Theo nội dung bản tự khai và các biên bản tiếp theo sau đó, bị đơn ông Nguyễn Phúc Đ trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị Kim T sống chung với nhau từ tháng 5/2013 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình chung sống giữa hai bên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống và ứng xử trong gia đình. Bà T cùng con chung đã ra ngoài thuê nhà để ở từ tháng 10/2021. Nay, bà Nguyễn Thị Kim T xin được ly hôn, ông không đồng ý ly hôn vì muốn con tôi có cha, mẹ đầy đủ. - Về con chung: Bà và ông Đ chung sống với nhau có 01 con chung tên Nguyễn Thanh L, sinh ngày 30/7/2018. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Việc cấp dưỡng nuôi con chung ông, bà tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Ông xác định không có, không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định, tổ chức hòa giải đoàn tụ và các vấn đề có liên quan, các đương sự có mặt để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Tại các buổi hòa giải bà T cương quyết ly hôn, ông Đ không đồng ý ly hôn. Do đó, Tòa án lập biên bản hòa giải đoàn tụ không thành và đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

Tại phiên tòa hôm nay, các đương sự vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và giữ nguyên ý kiến, yêu cầu đã trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận F, Tp. Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến kết luận việc thụ lý và giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đã được thực hiện theo đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung: Bà Nguyễn Thị Kim T và ông Nguyễn Phúc Đ chung sống với nhau có đăng ký kết hôn. Bà T cương quyết xin được ly hôn với ông Đ, ông Nguyễn Phúc Đ không đồng ý ly hôn nhưng vẫn không có phương án gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng, thậm chí không tạo điều kiện cho bà T quay trở về nhà để đoàn tụ gia đình. Do đó, căn cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ các Điều 51, 53, 54, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Tòa án xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim T: về quan hệ hôn nhân: Nguyễn Thị Kim T được ly hôn với ông Nguyễn Phúc Đ; về con chung: giao con chung tên Nguyễn Thanh L, sinh ngày 30/7/2018 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng; việc cấp dưỡng nuôi con chung ông, bà tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết ; về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Bà Nguyễn Thị Kim T và ông Nguyễn Phúc Đ xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét giải quyết; về án phí LHST: Bà Nguyễn Thị Kim T phải nộp số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng. Bà Nguyễn Thị Kim T đã nộp đủ án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Kim T và ông Nguyễn Phúc Đ vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và vẫn giữ nguyên các ý kiến yêu cầu đã trình bày. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định bà Nguyễn Thị Kim T và ông Nguyễn Phúc Đ tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy chứng nhận kết hôn số 46, quyền số 01/2013 ngày 16/8/2013 do Ủy ban nhân dân Phường A, quận F, Thành phố Hồ Chí Minh cấp) được xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa bà T và ông Đ có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, lối sống, không có tiếng nói chung. Ông, bà đã tự ly thân từ tháng 10/2021 đến nay. Qua các lần triệu tập để hòa giải đoàn tụ vợ chồng, bà T cương quyết ly hôn, ông Đ xác định không đồng ý ly hôn vì muốn con có đầy đủ cha mẹ nhưng không tạo điều kiện hoặc đưa ra phương án hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa bà T và ông Đ đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ các Điều 51, Điều 53 và các Điều 54, 56 Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim T cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Phúc Đ.

Về con chung: Căn cứ lời khai nhận của các đương sự và bản sao giấy khai sinh có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: bà T và ông Đ có 01 con chung tên Nguyễn Thanh L, sinh ngày 30/7/2018, hiện nay con chung đang ở với bà T. Bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, ông Đ đồng ý giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung ông, bà tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét thấy, con chung đang ở ổn định với bà T, các ý kiến và yêu cầu của các bên về người trực tiếp nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung là tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định cho con chung cũng như tạo điều kiện cho trẻ L phát triển về mọi mặt cần tiếp tục giao con chung cho bà T được trực tiếp nuôi dưỡng; Việc cấp dưỡng nuôi con chung bà T và ông Đ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên ghi nhận ý kiến của ông bà. Vì vậy, căn cứ các Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung, ông bà tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Bà Nguyễn Thị Kim T và ông Nguyễn Phúc Đ xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí LHST: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bà Nguyễn Thị Kim T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm số tiền là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0028899 ngày 02/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Tp. Hồ Chí Minh.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271 của Bộ Luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 53 và các Điều 54, 56, 57, 58, 71, 72, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim T.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim T được ly hôn với ông Nguyễn Phúc Đ (Giấy chứng nhận kết hôn số 46, quyền số 01/2013 ngày 16/8/2013 do Ủy ban nhân dân Phường A, quận F, Thành phố Hồ Chí Minh cấp).

- Về con chung: Bà Nguyễn Thị Kim T và ông Nguyễn Phúc Đ có 01 con chung tên Nguyễn Thanh L, sinh ngày 30/7/2018.

Giao con chung tên Nguyễn Thanh L cho bà Nguyễn Thị Kim T trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Ông Nguyễn Phúc Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được quyền cản trở nhưng ông Đ không được lạm dụng việc thăm nom để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người đang trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: không xem xét giải quyết.

2. Về án phí sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Kim T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm số tiền là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0028899 ngày 02/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận F, Tp. Hồ Chí Minh.

3. Thi hành tại Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

4. Về quyền kháng cáo của đương sự:

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ