- Tranh chấp gì? án hình sự — "BMH - tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổ…"
- Tòa quyết gì? Điểm b khoản 2 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 362/2020/HS-ST Ngày: 25 - 12 - 2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Nhâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Phú.
Bà Nguyễn Ngọc Hồng.
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Phạm Thanh Trang là Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Ấn - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 366/2020/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 392/2020/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:
BMH, sinh năm 1988 tại tỉnh Đồng Nai; thƣờng trú: A3, xã XT, huyện XL, tỉnh ĐN; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông BMH1, sinh năm 1962 và bà TTH2, sinh năm 1959; bị cáo chƣa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú, có mặt.
- Bị hại: NVC, sinh năm 1982, chết ngày 25/02/2020.
Ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại: Bà BTT, sinh năm 1954 và bà NTM, sinh năm 1981; cùng trú tại: Tổ 1, ấp VL, xã VT, huyện TB, tỉnh AG.
Ngƣời đại diện hợp pháp của bà BTT: Bà NTM, sinh năm 1981; cùng trú tại: Tổ 1, ấp VL, xã VT, huyện TB, tỉnh AG (theo văn bản ủy quyền 27/02/2020), có mặt.
- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà TTH2, sinh năm 1959; thƣờng trú: Ấp 3, xã Xuân Tâm, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, có mặt.
- Ngƣời làm chứng: LTC1, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào khoảng 21 giờ 40 phút, ngày 24/02/2020, bị cáo BMH điều khiển xe mô tô biển số 60B5-776.47 lƣu thông trên đƣờng Lê Thị Trung hƣớng từ đƣờng Thủ Khoa Huân về đƣờng Mỹ Phƣớc, Tân Vạn. Khi đến đoạn đƣờng thuộc khu phố 1A, phƣờng An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng thì Hải nhìn thấy 01 xe ô tô đầu kéo dừng ở lề phải nên Hải điều khiển xe chạy vƣợt sang phần đƣờng bên trái thì va chạm vào xe đạp điện của ông NVC đang điều khiển lƣu thông theo chiều ngƣợc lại làm ông C ngã xuống đƣờng đƣợc ngƣời dân đƣa đi cấp cứu nhƣng đã tử vong, BMH bị thƣơng tích, 02 xe hƣ hỏng.
- Kết quả khám nghiệm phƣơng tiện:
Xe đạp điện màu xanh đen hiệu ASAMA: Vành bánh trƣớc bị vỡ, hƣ hỏng hoàn toàn, hai phuộc trƣớc bị gãy cong biến dạng, chân đạp bên trái bị gãy.
Xe mô tô biển số 60B5-776.47: Vỡ toàn bộ mặt nạ bên trái, vở bửng chắn gió bên trái, không gƣơng chiếu hậu, mài mòn mũi vè chắn bùn trƣớc, mài mòn tay thắng trƣớc bên phải, mài mòn gác chân trƣớc phải, mài mòn ống ốp xả.
Kết luận giám định pháp y tử thi số 182/GĐPY ngày 26/02/2020 của Phòng kỹ thuận hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận nguyên nhân chết của NVC do chấn thƣơng sọ não.
Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn của BMH vào ngày 24/02/2020 là 251.78mg/dl (ngƣời bình thƣờng không uống rƣợu là < 10mg/dl).
Vật chứng của vụ án: Đối với xe mô tô 60B5-776.47 là của bà TTT2 đứng tên chủ sở hữu, bà H2 cho H mƣợn để làm phƣơng tiện đi lại nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho bà H; xe đạp điện nhãn hiệu ASAMA của bị hại NVC, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà NTM. Thiệt hại của 02 xe trên bà H2 và bà M có đơn từ chối định giá tài sản.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo BMH đã bồi thƣờng số tiền 85.000.000 đồng (tám mƣơi lăm triệu đồng) cho bà M. Trƣớc khi mở phiên tòa, bị cáo đã bồi thƣờng thêm số tiền 10.000.000 đồng (mƣời triệu đồng) bà M không có yêu cầu gì khác.
Cáo trạng số 379/CT-VKS-TA ngày 24/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố bị cáo BMH về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ theo quy định tại Điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An trình bày lời luận tội trong đó có nội dung giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo xử phạt bị cáo 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô 60B5-776.47 là của bà TTH2 đứng tên chủ sở hữu, bà H2 cho H mƣợn để làm phƣơng tiện đi lại nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho bà H2, xe đạp điện nhãn hiệu ASAMA của bị hại NVC, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà NTM là có căn cứ, bà H2 và bà M có đơn từ chối định giá tài sản thiệt hại của 02 xe nên cơ quan điều tra không đề cập là có căn cứ.
Về trách nhiệm bồi thƣờng dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo BMH đã bồi thƣờng số tiền 85.000.000 đồng (tám mƣơi lăm triệu đồng) cho bà M. Trƣớc khi mở phiên tòa, bị cáo đã bồi thƣờng thêm số tiền 10.000.000 đồng (mƣời triệu đồng), bà M không có yêu cầu gì khác.
Bị cáo BMH đã khai nhận toàn bộ hành vi nhƣ Cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Ý kiến của ngƣời hợp pháp của bị hại: Không có ý kiến gì. Về trách nhiệm hình sự đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ý kiến ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà TTH2: Không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo BMH khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo trƣớc Tòa. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, biên bản khám nghiệm hiện trƣờng, sơ đồ hiện trƣờng, bản ảnh tai nạn giao thông, khám nghiệm phƣơng tiện liên quan đến tai nạn, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và ngƣời làm chứng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 21 giờ 40 phút ngày 24/02/2020 trên đoạn đƣờng Lê Thị Trung thuộc khu phố 1A, phƣờng An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, BMH điều khiển xe mô tô biển số 60B5- 776.47 mà trong máu có nồng độ cồn vƣợt quá mức quy định, đi không đúng phần đƣờng dẫn đến va chạm vào xe đạp điện do ông NVC điều khiển, gây ra tai nạn giao thông hậu quả ông NVC tử vong. Hành vi của bị cáo tham gia giao thông trong tình trạng có nồng độ cồn trong máu vƣợt mức quy định cho phép đối với ngƣời điều khiển xe mô tô, lƣu thông không đúng chiều quy định đã vi phạm khoản 6 Điều 5, khoản 1 Điều 35 Luật phòng chống tác hại rƣợu bia, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật giao thông đƣờng bộ gây hậu quả nghiêm trọng khiến cho ông Nguyễn Văn Cứng tử vong đã đủ yếu tố cấu thành tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội danh và mức hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, đƣợc cấp giấy phép lái xe theo quy định, biết rõ các quy định về trật tự, an toàn giao thông đƣờng bộ nhƣng không nghiêm chỉnh chấp hành, khi tham gia giao thông trong tình trạng có nồng độ cồn trong máu vƣợt mức quy định cho phép, đi không đúng làm đƣờng, phần đƣờng quy định, không làm chủ tốc độ và thiếu quan sát đã gây ra tai nạn đã trực tiếp xâm phạm những quy định của nhà nƣớc về trật tự, an toàn giao thông đƣờng bộ, gây thiệt hại đến tính mạng, tài sản của ngƣời khác, gây đau thƣơng mất mát cho gia đình bị hại, ảnh hƣởng xấu đến trật tự, an toàn giao thông tại địa phƣơng. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm nhằm đảm bảo tính răn đe, giáo dục riêng bị cáo và phòng nghừa chung cho xã hội.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã chủ động bồi thƣờng cho gia đình bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo là lao động chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phƣơng; đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
. Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đề nghị áp dụng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Đã thỏa thuận xong, ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.
.Về xử lý vật chứng:
Đối với xe mô tô 60B5-776.47 là của bà TTH2 đứng tên chủ sở hữu, bà H2 cho H mƣợn để làm phƣơng tiện đi lại nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho bà H2; xe đạp điện nhãn hiệu ASAMA của bị hại NVC, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà NTM là có căn cứ, bà H2 và bà M có đơn từ chối định giá tài sản thiệt hại của 02 xe nên cơ quan điều tra không đề cập là phù hợp với quy định pháp luật.
. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm b khoản 2 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
- Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo BMH phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.
Xử phạt bị cáo BMH 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về án phí: Bị cáo BMH phải nộp 200.000 đồng hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sơ thẩm.
Bị cáo, ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thuận An; - Chi cục THADS thành phố Thuận An; - Công an thành phố Thuận An; - Sở Tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - Bị cáo; - Ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại; - Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lƣu: HS, THAHS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Nhâm |