vanban.org

Bản án 362/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Vũ Phạm Hoài Ph và anh Phạm Văn C.

Về nuôi con chung: Giao hai con Phạm Trung H, sinh ngày 19-11-2005, giới tính: Nam và Phạm Hải Đ, sinh ngày 16-3-2008, giới tính: Nam cho chị Vũ Phạm Hoài Ph trực tiếp trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Vũ Phạm Hoài Ph không yêu cầu anh Phạm Văn C cấp dưỡng nuôi con. N… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân gia đình giữa chị Ph và anh C"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Vũ Phạm Hoài Ph và anh Phạm Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 362/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 28 -7-2020
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị
Ph và anh C

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Kim Huế

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Vương Thị Minh Tân

Ông Nguyễn Văn Quỹ

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Phương Thảo – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Trần Quang Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2020, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý 231/2020/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2020 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2020/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Vũ Phạm Hoài Ph, sinh năm 1980; Đăng ký hộ khẩu thường trú: số 32/22 Hoàng Hữu Nam, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: số nhà 8/220 Lương Thế Vinh, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định.

Bị đơn: Anh Phạm Văn C, sinh năm 1967; Nơi cư trú: số 32/22 Hoàng Hữu Nam, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định.

(chị Ph có mặt tại phiên tòa, anh C vắng mặt tại phiên tòa lần 2)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện tranh chấp về hôn nhân và gia đình đề ngày 09-3-2020, trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Vũ Phạm Hoài Ph trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu khoảng 2 năm và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Nam Định ngày 30-12-2004. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc khoảng hai năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm lối sống, bất đồng về kinh tế và nuôi dạy con chung. Từ đó, vợ chồng thường xảy ra xô xát, cãi vã. Do mâu thuẫn kéo dài nên từ năm 2013 vợ chồng chị đã sống ly thân và không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay chị Ph xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh C không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh C.

Về con chung: Chị Ph trình bày vợ chồng có hai chung là Phạm Trung H, sinh ngày 19-11-2005, giới tính: Nam và Phạm Hải Đ, sinh ngày 16-3-2008, giới tính: Nam. Hiện nay hai con đang ở cùng với chị. Về việc nuôi con: Chị Ph có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con và không yêu cầu anh C cấp dưỡng.

Về tài sản chung và vay nợ chung của vợ chồng: Chị Ph xác định vợ chồng không có gì và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Phạm Văn C đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng anh C không đến Tòa án để làm bản tự khai, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, không tham gia phiên tòa nên anh C không có quan điểm để giải quyết vụ án.

Tại biên bản thu thập tài liệu chứng cứ ngày 17-6-2020 tại Ủy ban nhân dân phường N xác nhận: Quá trình chung sống vợ chồng chị Ph và anh C thường xảy ra mâu thuẫn, hiện tại chị Ph đã bỏ về nhà ngoại ở và vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ năm 2013 đến nay. Về con chung: Vợ chồng anh chị có hai con chung là là Phạm Trung H, sinh ngày 19-11-2005, giới tính: Nam và Phạm Hải Đ, sinh ngày 16-3-2008, giới tính: Nam. Hiện tại các con đang ở cùng với chị Ph.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định căn cứ Điều 21, Điều 262 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhận xét đánh giá: Về quá trình tiến hành tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng các qui định của pháp luật. Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự như sau: Nguyên đơn ®· thùc hiÖn ®Çy ®ñ quyÒn vµ nghÜa vô cña m×nh theo quy ®Þnh tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn, quá trình giải quyết vụ án đã không cung cấp bản tự khai, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, 02 lần vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do. Như vậy bị đơn đã tự từ bỏ các quyền và nghĩa vụ của mình. Về việc giải quyết vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa chị Ph và anh C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó căn cứ áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử xử ly hôn giữa chị Ph và anh C. Về con chung: cháu Phạm Trung H và Phạm Hải Đ hiện tại đang ở cùng với chị Ph và đều có nguyện vọng được ở với mẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nguyện vọng của chị Ph giao hai con Phạm Trung H và Phạm Hải Đ cho chị Ph chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Ph không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không giải quyết. Về tài sản chung và vay nợ: chị Ph không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn là anh Phạm Văn C. Tại phiên tòa anh C vắng mặt lần 2 nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về hôn nhân: Chị Vũ Phạm Hoài Ph và anh Phạm Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Nam Định năm 2004 nên hôn nhân giữa chị Ph và anh C là hôn nhân hợp pháp.

Về mâu thuẫn vợ chồng: Sau khi kết hôn Chị Ph và anh C sống hòa thuận được khoảng hai năm phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm về lối sống, về kinh tế và nuôi dạy con chung. Vợ chồng chị đã sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay và không còn quan tâm đến nhau.Nay chị Ph xác định tình cảm vợ chồng không còn và có nguyện vọng được ly hôn với anh C. Đối với anh C, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng anh C không đến Tòa án để viết bản tự khai và không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Tại phiên tòa anh C vẫn vắng mặt không có lý do thể hiện việc anh C không có thiện chí hòa giải, giải quyết mâu thuẫn vợ chồng và việc nuôi con. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Ph và anh C đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử có căn cứ cho ly hôn giữa chị Ph và anh C theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tranh chấp nuôi con: Chị Ph có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng hai con sau khi vợ chồng ly hôn. Xét thấy, các cháu Phạm Trung H và Phạm Hải Đ hiện đang sinh sống ổn định cùng chị Ph và cùng có nguyện vọng được ở với mẹ. Anh C không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tại phiên tòa để trình bày về việc nuôi con cũng như về cấp dưỡng nuôi con. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con chung, theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử có căn cứ giao hai con là Phạm Trung H và Phạm Hải Đ cho chị Vũ Phạm Hoài Ph trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Ph không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung. Xét việc chị Ph không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung và vay nợ chung của vợ chồng: Chị Ph không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Ph là nguyên đơn trong vụ án nên phải chịu toàn bộ án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Vũ Phạm Hoài Ph và anh Phạm Văn C.

2. Về nuôi con chung: Giao hai con Phạm Trung H, sinh ngày 19-11-2005, giới tính: Nam và Phạm Hải Đ, sinh ngày 16-3-2008, giới tính: Nam cho chị Vũ Phạm Hoài Ph trực tiếp trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Vũ Phạm Hoài Ph không yêu cầu anh Phạm Văn C cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được hạn chế, cản trở các quyền này.

Người không trực tiếp nuôi con chung có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con, không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con của người trực tiếp nuôi con chung

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Vũ Phạm Hoài Ph phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ khoản tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị Vũ Phạm Hoài Ph đã nộp tại biên lai số 0002953 ngày 04-6-2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Phạm Hoài Ph có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Phạm Văn C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ