vanban.org

Bản án 362/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim T.

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Kim T và anh Lê Văn T Về nuôi con chung: Giao người con chung tên Lê Khánh H, sinh ngày 07/8/2011 cho anh Lê Văn T trực tiếp, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 362/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 24/4/2018
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC, TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Tình

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thành Vinh

2. Bà Nguyễn Thị Quý

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hoa, là Thư ký Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Cao Hùng – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2018, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 1120/2017/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2017 về việc Tranh chấp ly hôn; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 82/2018/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1990 (có mặt)

Địa chỉ thường trú: Ấp a, xã b, huyện M, tỉnh S

Địa chỉ tạm trú: a đường b, khu phố c, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh

2. Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1987 (xin vắng mặt).

Địa chỉ thường trú: Ấp a, xã b, huyện L, tỉnh Đ

Địa chỉ tạm trú: a đường b, khu phố c, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 23 tháng 10 năm 2017 và trong quá trình xét xử; nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Lê Văn T, tự nguyện tìm hiểu và tiến tới hôn nhân vào năm 2010 có tổ chức cưới hỏi và đăng ký kết hôn vào ngày 02/8/2010 tại Ủy ban nhân xã T, huyện L, tỉnh Đ. Sau khi tiến tới hôn nhân vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc đến đầu năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuân đó là: Anh T nghi ngờ chị T có quan hệ tình cảm với ngườ khác, anh T cá độ bóng đá, cờ bạc, anh T không có trách nhiện với vợ con, anh T đòi đâm chị T một lần, đánh chị T một lần; chị T và anh T đã sống ly thân khoảng 03 tháng cho đến nay, chị T xác định tình cảm với anh T không còn nên yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: Tên Lê Khánh H, sinh ngày 07/8/2011; sau khi ly hôn chị T tự nguyện giao cho anh T được trực tiếp, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị T không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị T khai không có.

Bị đơn anh Lê Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh T xác nhận việc tiến tới hôn nhân như chị T trình bày là đúng; về mâu thuẩn vợ chồng, anh T nghi ngờ chị T có quan hệ tình cảm với người khác, anh T thừa nhận có cá độ bóng đá, cờ bạc tuy nhiên đó là trước đây hiện nay anh T không còn chơi nữa, anh T thừa nhận có hù dọc đòi đâm chị T một lần, đánh chị T một lần. Ngoài những mâu thuẫn như trên thì không còn mâu thuẫn nào khác. Nay chị T yêu cầu ly hôn anh T không đồng ý vì vẫn còn tình cảm với chị T.

Về con chung: Tên Lê Khánh H, sinh ngày 07/8/2011; hiện nay do bà nội chăm sóc ở dưới quê huyện L, tỉnh Đ.

- Về tài sản chung và nợ chung: Anh T khai không có

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý vụ án, tiến hành thu thập chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và diễn biến tại phiên tòa đã được Tòa án nhân dân quận Thủ Đức và Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án thực hiện đúng quy trình thủ tục theo quy định của pháp luật; về thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự, đương sự chấp hành các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim T.

Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án gồm có: Giấy chứng nhận kết hôn số 86/2010 quyển số 02 ngày 02/8/2010; giấy khai sinh người con chung tên Lê Khánh H, sinh ngày 07/8/2011; đơn xác nhận tạm trú ngày 09/02/2017; chứng minh nhân dân, hộ khẩu của anh T, chị T; phiếu xác minh ngày 01/11/2017

Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh: Hôn nhân của chị T và anh T là hợp pháp; chị T và anh T có một con chung tên Lê Khánh H, sinh ngày 07/8/2011.

Các nội dung đương sự thống nhất: Chị T và anh T đều thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn đó là: Anh T nghi ngờ chị T có quan hệ tình cảm với ngườ khác, anh T cá độ bóng đá, cờ bạc, anh T không có trách nhiện với vợ con, anh T đòi đâm chị T một lần, đánh chị T một lần.

Tại phiên tòa anh T xin vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

{1}. Về thẩm quyền giải quyết vu ̣ án. Bị đơn anh Lê Văn T cư trú tại địa chỉ a đường b, khu phố c, phường L, quận T; nên thẩm quyền giải quyết vu ̣ án Hôn nhân và Gia đình này theo trinh tự̀

sơ thẩm là Tòa án nhân dân quận Thủ Đức; được pháp luật quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

{2}. Về quan hệ tranh chấp. Căn cứ đơn khởi kiện đề ngày 23/10/2017; chị Nguyễn Thị Kim T yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn T, thì vụ án có quan hệ tranh chấp là tranh chấp về ly hôn, là loại tranh chấp được pháp luật quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

{3}. Về thủ tục tố tụng. Tòa án triệu tập anh T tham giao phiên tòa vào lúc 8 giờ 00 phút, ngày 29/3/2018, tuy nhiên tại phiên tòa anh T vắng mặt mà không có lý do. Hội đồng xét xử sau khi thảo luận và Quyết định hoãn phiên tòa và mở lại phiên tòa vào ngày hôm nay (24/4/2018), tuy nhiên ngày 03/4/2018 anh T có đơn xin xét xử vắng mặt; nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T là phù hợp, được pháp luật quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 và Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

{4}. Về yêu cầu của đương sự (nguyên đơn đối với bị đơn):

{4.1}.Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Kim T và anh Lê Văn T là hợp pháp; sau khi tiến tới hôn nhân, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc đến đầu năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn được chị T và anh T thừa nhận đó là: Anh T nghi ngờ chị T có quan hệ tình cảm với người khác, anh T cá độ bóng đá, cờ bạc, anh T đòi đâm chị T một lần, đánh chị T một lần; chị T và anh T đã ly thân từ tháng 10/2017 cho đến nay.

Hội đồng xét xử, nhận định mâu thuẫn giữa chị T và anh T là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị T muốn ly hôn anh T không đồng ý, tuy nhiên từ sau khi Tòa án tiến hành hòa giải 08 tháng 12 năm 2017 cho đến nay; chị T anh T không bên nào tạo điều kiện để đoàn tụ gia đình. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh T là phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên được chấp nhận

{4.2}. Về con chung: Tên Lê Khánh H, sinh ngày 07/8/2011, hiện nay do bà nội (mẹ của anh T) trực tiếp, trôm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; chị T có nguyện vọng sau khi ly hôn giao cho anh T trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng, việc chị T tự nguyện giao con cho anh T là phù hợp nên được ghi nhận.

{4.3}. Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không có đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Tòa án không xét.

{4.4}. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự khai không có, nên Tòa án không xét.

{5}. Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 đồng chị Nguyễn Thị Kim T phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Khoản 1 Điều 273 và Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Kim T và anh Lê Văn T

2. Về nuôi con chung: Giao người con chung tên Lê Khánh H, sinh ngày 07/8/2011 cho anh Lê Văn T trực tiếp, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự khai không có.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị Nguyễn Thị Kim T phải chịu, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu số 0037382 ngày 26/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

5. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

5.1. Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Kim T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Lê Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

5.2. Quyền kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày tuyên án.

6. Quyền yêu cầu thi hành án: “Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014)”./.

Cỡ chữ