- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phan Thị L và ông Nguyễn Thành Q.
- Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 361/2023/HNGĐ-ST Ngày: 29/6/20223 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung giữa bà Lvà ông Q. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Võ Việt Nam
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Giữ - Ông Lê Cao Trí
-Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Mai –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Trang -Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 298/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2023, việc tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 291/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, giữa:
1.Nguyên đơn: Bà Phan Thị L, sinh năm 1985.
Địa chỉ: ấp M H, xã M Đ, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
2.Bị đơn: Ông Nguyễn Thành Q, sinh năm 1981.
Địa chỉ: ấp M H, xã M Đ, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
Bà Phan Thị L và ông Nguyễn Thành Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*.Tại đơn khởi kiện và trong quá trình Toà án giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phan Thị L trình bày:
Về hôn nhân: Giữa bà Phan Thị L và ông Nguyễn Thành Q do tự nguyện quen biết tìm hiểu nhau và tiến đến hôn nhân vào năm 2011, không có tổ chức lễ cưới, hôn nhân lần thứ nhất của cả hai, có đăng ký kết hôn trể hạn theo giấy chứng nhận kết hôn số: 71, ngày 04 tháng 7 năm 2017 tại Uỷ ban nhân dân phường VM, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẩn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, thường xuyên cự cải, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cả hai không có tiếng nói chung, mặc dù cả hai đã nhiều lần tìm cách hàn gắn nhưng vẫn không khắc phục được và vợ chồng đã ly thân từ đó cho đến nay. Nhận thấy tình cảm của vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Phan Thị L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Thành Q.
Về con chung: Có 01 (một) con chung chưa thành niên tên Phan Thị Kim Y, sinh ngày 21/7/2012. Hiện nay cháu Y đang sống chung với bà Phan Thị L và ý kiến của cháu Y có nguyện vọng sống chung với bà Phan Thị L. Khi ly hôn bà Phan Thị L yêu cầu nuôi con chung chưa thành niên tên Phan Thị Kim Y, sinh ngày 21/7/2012 và không yêu cầu ông Nguyễn Thành Q phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên bà Phan Thị L và ông Nguyễn Thành Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.
*.Bị đơn ông Nguyễn Thành Q có gửi đơn đề nghị xét xử vắng mặt ghi ngày 30/5/2023, thể hiện như sau:
Về hôn nhân: Ông Nguyễn Thành Q đồng ý ly hôn với bà Phan Thị L.
Về con chung: Có 01 (một) con chung chưa thành niên tên Phan Thị Kim Y, sinh ngày 21/7/2012. Khi ly hôn bà Phan Thị L yêu cầu nuôi con chung và không yêu cầu ông Q cấp dưỡng con chung thì ông Q đồng ý cho bà L được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ông Nguyễn Thành Q hoàn toàn chấp thuận và không có ý kiến gì thêm. Yêu cầu được xét xử vắng mặt trong tất cả phiên xét xử của Tòa án các cấp và giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán cho đến việc diễn biến tại phiên tòa của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh trụng. Tòa án nhân dân huyện Châu Phú nhận định:
Về tố tụng: Phiên tòa được mở lần thứ nhất nhưng nguyên đơn bà Phan Thị L và bị đơn ông Nguyễn Thành Q đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt ghi ngày 07/6/2023 và ngày 30/5/2023. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Phan Thị L và ông Nguyễn Thành Q.
Về hôn nhân: Giữa bà Phan Thị L và ông Nguyễn Thành Q là hôn nhân hợp pháp bởi ông bà có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Xem xét yêu cầu ly hôn của bà Phan Thị L, Hội đồng xét xử nhận thấy trong cuộc sống vợ chồng của ông bà đã không còn hạnh phúc, do một bên không còn tình cảm, đã có khoảng thời gian ly thân, cả hai có những mâu thuẫn mà không thể hàn gắn được do giữa ông bà không có sự cảm thông cho nhau. Bà L yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thành Q, còn ông Q cũng đồng ý ly hôn với bà L. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà Phan Thị L là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, bà Phan Thị L được ly hôn với ông Nguyễn Thành Q.
Về nuôi con chung: Theo giấy khai sinh của Phan Thị Kim Y, lời trình bày của bà Phan Thị L, ông Nguyễn Thành Q thì bà và ông Nguyễn Thành Q có con chung chưa thành niên tên Phan Thị Kim Y, sinh ngày 21/7/2012.
Xét thấy, con chung được bà Phan Thị L giáo dục, chăm sóc, nuôi dưỡng để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về mọi mặt của các cháu, tạo điều kiện cho các cháu được ổn định về tâm sinh lý, chỗ ở, sinh hoạt và học tập nên bà Phan Thị L yêu cầu được nuôi con chung, còn ông Nguyễn Thành Q cũng đồng ý cho bà L được tiếp tiếp tục nuôi dưỡng con chung là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ khoản 3 Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, giao con chung chưa thành niên tên Phan Thị Kim Y, sinh ngày 21/7/2012 cho bà Phan Thị L được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Thành Q có quyền và nghĩa vụ thăm nom con. Bà Phan Thị Lvà các thành viên trong gia đình của bà Phan Thị L không được cản trở ông Nguyễn Thành Q thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Bà Phan Thị L không yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phan Thị L trình bày giữa bà và ông Nguyễn Thành Q về tài sản chung và nợ chung là không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn ông Nguyễn Thành Q trình bày về tài sản chung và nợ chung là không yêu cầu Toà án giải quyết. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay do không có mặt của ông Nguyễn Thành Q để đối chất làm rõ các mối quan hệ này nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết. Nếu đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.
Về án phí: Bà Phan Thị L là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 143, khoản 4 Điều 147, Điều 179, Điều 186, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 và khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1.Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phan Thị L và ông Nguyễn Thành Q.
Giấy chứng nhận kết hôn số: 71, ngày 04 tháng 7 năm 2017 tại Uỷ ban nhân dân phường VM, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2.Về nuôi con chung: Có 01 (một) con chung chưa thành niên tên Phan Thị Kim Y, sinh ngày 21/7/2012.
2.1.Giao con chung chưa thành niên tên Phan Thị Kim Y, sinh ngày 21/7/2012 cho bà Phan Thị L được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng.
Ông Nguyễn Thành Q có quyền và nghĩa vụ thăm nom con. Bà Phan Thị L và các thành viên trong gia đình của bà Phan Thị L không được cản trở ông Nguyễn Thành Q thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
2.2. Bà Phan Thị L không yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
3.Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phan Thị L trình bày tài sản chung và nợ chung là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.
4.Về án phí: Bà Phan Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005558 ngày 15 tháng 5 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Bà Phan Thị L đã nộp đủ.
5.Về quyền kháng cáo: Bà Phan Thị L và ông Nguyễn Thành Q vắng mặt, thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; - VKSND huyện Châu Phú; - Chi Cục THADS huyện Châu Phú; - UBND phường VM, thành phố Châu Đốc tỉnh An Giang; - Lưu hồ sơ, Vp./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Văn Giữ Lê Cao Trí | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Võ Việt Nam THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Võ Việt Nam |