vanban.org

Bản án 361/2021/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàng Mai, TP. Hà Nội Tuyên án 17/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Trần Thanh B phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"

BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 Xử phạt: Trần Thanh B 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/7/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Trần Thanh B phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀNG MAI
TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

------------
Bản án số: 361/2021/HSST
Ngày: 17/12/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, TP HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Mai Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Sơn Hóa

2. Bà Trần Thị Kim Dung

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Cán bộ Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, TP Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Phương - Kiểm sát viên sơ cấp

Ngày 17 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, TP Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 383/2021/HSST ngày 16/11/2021 đối với bị cáo:

Họ tên: TRẦN THANH B - Sinh ngày 17/5/1978 tại Hà Nội

ĐKHKTT: số 15H5 tập thể T, phường T, quận H TP Hà Nội

Nơi ở: số 7 phố N, phường T, quận H, TP Hà Nội

Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

Nghề nghiệp: Tự do

Trình độ văn hoá: 12/12

Con ông: Trần Ngọc P

Con bà: Lê Kim Â

Là con thứ tư trong gia đình có bốn anh em

- Tiền sự: Năm 2019 tập trung cai nghiện bắt buộc 24 tháng tại Trung tâm cai nghiện số 4 Yên Bài, Hà Nội. Về địa phương tháng 4/2021

- Tiền án:

+ Ngày 24/8/2009, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 477/2009/HSST, TAND quận H, TP Hà Nội xử phạt 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/5/2009 về tội trộm cắp tài sản. Ra tù về địa phương ngày 23/11/2010 (chưa xóa án tích)

+ Ngày 18/4/2011, tại bản án hình sự sơ thẩm số 98/2011/HSST, TAND quận H1, TP Hà Nội xử phạt 32 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/11/2011 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Ra tù về địa phương ngày 26/4/2013 (đã xóa án tích)

(Danh chỉ bản số 377 do công an quận H1 lập ngày 07/7/2021)

Bắt quả tang ngày 06/7/2021, tạm giữ ngày 07/7/2021, tạm giam ngày 26/7/2021

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Bùi Thị L - SN 1957 (Vắng mặt)

Cư trú tại: 11 ngõ 1, phố Đ, quận H, TP Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 15 phút ngày 06/7/2021, tại trước cửa số nhà 295 đường L, phường L, quận H1, TP Hà Nội, Tổ Công tác Công an phường L phối hợp cùng Tổ Công tác Y5/141-CATP Hà Nội kiểm tra hành chính đối với Trần Thanh B đang điều khiển xe mô tô Honda Wave không BKS phía sau chở Bùi Văn L (SN 1986; HKTT: xóm Đ, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình). Quá trình kiểm tra, L tự động lấy từ túi quần trước bên phải giao nộp cho Tổ Công tác 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 01 gói giấy bạc màu vàng kích thước (0,5x1,5)cm bên trong có chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ L và B cùng khai nhận gói chất bột màu trắng trên là ma túy do B vừa mua hộ L trước đó. Ngoài ra Công an còn thu giữ của B chiếc xe mô tô nêu trên và số tiền 50.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định số 562/KLGĐ-PC09 ngày 14/7/2021, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội kết luận: chất bột màu trắng bên trong gói giấy thu giữ của Bùi Văn L là ma túy loại Heroin có khối lượng là 0,074 gam

Quá trình điều tra, Trần Thanh B và Bùi Văn L khai nhận: khoảng 12h30’ ngày 06/7/2021, L đi bộ đến khu vực đầu ngõ 897 đường G, phường G, quận H, TP Hà Nội để tìm mua ma túy sử dụng. Tại đây, L gặp B là lái xe ôm đang chờ khách nên L nhờ B mua hộ 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng để sử dụng. B đồng ý và hai bên thỏa thuận tiền công mua hộ ma túy là 50.000 đồng. Sau đó L đã đưa cho B 250.000 đồng. B cầm số tiền này đi đến khu vực trước cửa số nhà 811 đường G, phường G, quận H, Hà Nội và mua của một ngươi đàn ông không quen biết 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. B đưa cho L gói ma túy, L cất gói ma túy này vào túi quần trước bên phải đang mặc. Sau đó L nhờ B chở đến khu vực hồ T, khi cả hai đi đến trước cửa số nhà 295 đường L, phường L, quận H1, TP Hà Nội thì bị phát hiện bắt quả tang.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho B do không xác minh được tên tuổi, địa chỉ của người này nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với Bùi Văn L, xét chưa đến mức ttuy cứu trách nhiệm hình sự, ngày 08/7/2021, Công an phường L đã bàn giao L lưu trú tạm thời tại cơ sở Cai nghiện ma túy số 1 Hà Nội để làm thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh không BKS đã thu giữ của B: B khai mua xe này của một người không quen biết, khi mua xe có đầy đủ giấy tờ nhưng sau đó đã bị thất lạc. Qua điều tra thì xe mô tô này đăng ký chủ sử dụng là chị Bùi Thị L, SN 1957; trú tại: 11 ngõ 1 phố Đ, quận H, TP Hà Nội, BKS 30K6-46.02. Chị L khai đã mua và đăng ký xe năm 2009. Sau đó chị L đã bán xe cho một người không quan biết. Qua xác minh thì xe mô tô này không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng nên Cơ quan Điều tra đã chuyển xe mô tô này đến Cơ quan Thi hành án dân sự quận H để xử lý theo quy định.

Về số tiền 50.000 đồng đã thu giữ của B: đây là tiền công B mua ma túy cho Bùi Văn L mà có.

Tại bản cáo trạng số 322/CT-VKSNDQHM ngày 26/10/2021, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, TP Hà Nội truy tố Trần Thanh B về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 - BLHS 2015.

Tại phiên toà: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận nội dung bản cáo trạng truy tố đúng hành vi bị cáo đã thực hiện, thấy được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, hối hận và đề nghị Tòa xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

Đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 477/2009/HSST ngày 24/8/2009 của TAND quận H, TP Hà Nội, bị cáo khai mẹ bị cáo là bà Lê Kim  đã nộp án phí hình sự sơ thẩm cho cơ quan Thi hành án quận H, nhưng bà  đã chết năm 2012. Hiện nay bị cáo không có tài liệu chứng cứ gì để chứng minh cho việc bị cáo đã nộp án phí của bản án này.

Đại diện VKSND quận Hoàng Mai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

- Xử phạt bị cáo từ 30 tháng đến 34 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày 06/7/2021.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng:

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 50.000 đồng đã thu giữ của bị cáo

- Tịch thu tiêu hủy 01 gói giấy bạc chứa Heroin có khối lượng là 0,074 gam

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô Wave màu xanh không biển kiểm soát đã thu giữ của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp

Ngày 06/7/2021, tại khu vực đầu ngõ 897 đường G, phường G, quận H, Hà Nội; Trần Thanh B đã có hành vi bán trái phép 0,074 gam ma túy loại Heroin cho Bùi Văn L và thu lợi bất chính 50.000 đồng. Như vậy hành vi của Trần Thanh B đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 - BLHS 2015. Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ pháp lý. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Do vậy, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Bị cáo là người đã có nhiều tiền án, trong đó có Bản án hình sự sơ thẩm số 477/2009/HSST ngày 24/8/2009 của TAND quận H, TP Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Theo Cơ quan Thi hành án dân sự quận H cung cấp: hiện chưa có căn cứ để xác định bị cáo đã nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng của bản này do Cơ quan Thi hành án chưa nhận được bản án (BL 31f). Tại phiên tòa bị cáo khai mẹ bị cáo là bà Lê Kim  đã nộp án phí hình sự sơ thẩm của bản án này cho cơ quan Thi hành án quận H, nhưng bà  đã chết năm 2012. Hiện nay bị cáo không có tài liệu chứng cứ gì để chứng minh cho việc bị cáo đã nộp án phí của bản án này. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định: bị cáo chưa được xóa án tích đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 477/2009/HSST ngày 24/8/2009 của TAND quận H, TP Hà Nội do bị cáo chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm. Do đó bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm. Cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian. Khi lượng hình có xem xét tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo do không xác định được tên tuổi địa chỉ nên Cơ quan Điều tra không xử lý là có căn cứ.

Đối với đối tượng Bùi Văn L đã có hành vi đưa tiền cho bị cáo nhờ mua ma túy hộ để sử dụng, số lượng ma túy thu giữ trong người Luận là 0,074 gam Heroin; khối lượng ma túy này chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự đối với L về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan Điều tra không xử lý hình sự Bùi Văn L là có căn cứ.

Về hình phạt bổ sung: xét bị cáo đang bị tạm giam, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng:

- Đối với 50.000 đồng đã thu giữ của bị cáo do đây là tiền do phạm tội mà có nên tịch thu sung quỹ Nhà nước

- Tịch thu tiêu hủy 01 gói ma túy loại Heroin có khối lượng là 0,074 gam

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh không biển kiểm soát đã qua sử dụng, số khung 200409, số máy 1401297 đã thu giữ của bị cáo: qua xác minh xe mô tô này đăng ký BKS 30K6-4602, chủ đăng ký xe là chị Bùi Thị L ở số 11 ngõ 1 phố Đ, quận H1, Hà Nội. Chị L khai đã bán xe máy này cho người không quen biết. Bị cáo khai đã mua xe này của người không rõ địa chỉ cụ thể, giấy tờ xe bị cáo không có. Qua điều tra xác minh thì xe không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định xe mô tô này là tài sản cá nhân của bị cáo dùng để mưu sinh nên trả lại cho bị cáo.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 - BLTTHS 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Về quyền kháng cáo: bị cáo, người liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 31, 333 - BLTTHS 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Trần Thanh B phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38

- BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017

Xử phạt: Trần Thanh B 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/7/2021.

Về vật chứng: áp dụng Điều 106 - BLTTHS 2015

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 50.000 đồng đã thu giữ của bị cáo (thể hiện tại Giấy nộp tiền ngày 28/10/2021 của Cơ quan Thi hành án dân sự quận H, TP Hà Nội tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam)

- Tịch thu tiêu hủy 01 gói Hêrroin có khối lượng là 0,074 gam (đã chuyển Cơ quan Thi hành án dân sự quận H tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/10/2021)

- Trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh không biển kiểm soát đã qua sử dụng, số khung 200409, số máy 1401297 (đã chuyển Cơ quan Thi hành án dân sự quận H tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/10/2021)

Về án phí: áp dụng Điều 136 - BLTTHS 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

Về quyền kháng cáo: áp dụng các Điều 331, 333 - BLTTHS 2015:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Chị Bùi Thị L có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án

Về việc thi hành án: áp dụng Điều 26 - Luật Thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định của tòa án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ