vanban.org

Bản án 360 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu H. quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H ly hôn anh Nguyễn Công H1. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thu H - Nguyễn Công H"
  • Tòa quyết gì? tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:360;
Ngày 09/6/2026;
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con;

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - HÀ NỘI.

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy.

- Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Văn Miến;

Ông Nguyễn Văn Chiến;

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải - Thư ký Toà án Khu vực 10 -Hà

Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Hà Nội tham gia phiên

tòa: Bà Bùi Thị Thủy Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 06 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 10 – Hà

Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 196/2026/HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2026; về việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2026/HNGĐ ngày 12/5/2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1988; CC số xxxxxxxxxxxx ; nơi cấp: Bộ C1, ngày cấp: 09/01/25025; nơi cư trú: Xóm E, thôn P, xã Q, thành phố Hà Nội; có mặt;

- Bị đơn: Anh Nguyễn Công H1, sinh năm 1985; CCCD số xxxxxxxxxxx; cấp ngày 26/5/2014, Nơi ĐKHKTT: Xóm E, thôn P, xã Q, thành phố Hà Nội; vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa,

nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Thu H trình bày: Chị và anh Nguyễn Công H1 tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện Q, thành phố Hà Nội (Nay là xã Q, thành phố Hà Nội) ngày 06/10/2008 theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 26. Quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc. Đến năm 2009, anh H1 bỏ đi lao động tại Hàn Quốc đến nay chưa về. Trong thời gian anh H1 đi nước ngoài vợ chồng ít liên lạc với nhau và ít gửi tiền về nuôi con. Khi anh H1 đi lao động ngoài nước thì vợ chồng có đồng thuận để anh H1 đi bằng con đường du lịch, sau đó ở lại lao động bất hợp pháp nên chị không biết hiện nay anh H1 địa chỉ anh H1 hiện ở đâu, từ khi anh H1 xuất cảnh, anh H1 cũng không báo cho chị biết địa chỉ anh H1 ở đâu. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh H1 cũng không liên lạc với chị, không gửi tiền về cho chị và cũng không hẹn ngày về. Vì vậy, chị yêu cầu ly hôn anh H1.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Thùy T, sinh ngày

21/8/2010 và Nguyễn Thùy C, sinh ngày 29/9/2014. Hiện hai cháu đang ở với chị. Sau ly hôn chị yêu cầu được nuôi cả hai cháu và không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản, nợ chung: Không có.

Về án phí: Chị tự nguyện chịu toàn bộ án phí đã nộp.

Anh Nguyễn Công H1 đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án và văn

bản tố tụng nhưng không có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại bản biên bản xác minh ngày 20/4/2026, ông Nguyễn Thế Đ và bà Đôn

Thị Q là bố mẹ đẻ anh H1 trình bày như sau:Anh Nguyễn Công H1 kết hôn với chị Nguyễn Thị Thu H năm 2008. Sau kết hôn hai vợ chồng ở riêng đến năm 2018 thì anh chị về ở cùng ông bà, vợ chồng hòa thuận, không có mâu thuẫn. Năm 2019, anh H1 đi lao động tại Hàn Quốc, từ đó đến nay chưa về, anh H1 thường xuyên liên lạc với gia đình qua Hiện nay anh H2 ở đâu thì ông, bà không biết, chỉ biết đang ở Hàn Quốc. Chị H trước khi làm đơn ly hôn có trao đổi với ông bà, ông, bà có khuyên chị H nhưng chị H vẫn có đơn ly hôn, việc ly hôn hay không là quyền của anh H1, chị H, ông, bà không mong muốn anh chị ly hôn.

Về con chung: Anh H1, chị H có hai con chung là Nguyễn Thùy T, sinh

năm 2010 và Nguyễn Thùy C, sinh năm 2014.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Về trình tự thủ tục tố tụng thì Thẩm

phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn không hành tốt pháp luật, bị đơn hiện đi lao động xuất khẩu tại Hàn Quốc không có địa chỉ cụ thể nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơnvà giải quyết theo thủ tục bị đơn cố tình giấu địa chỉ là đúng quy định của pháp luật.

Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng các điều 51, 56, 57, 82,85 của

Luật nhân và gia đình, để xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu H.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H ly hôn anh Nguyễn Công H1.

Về con chung: Giao hai con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh H1

đến khi chị H có yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết

quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1- Về tố tụng: Anh Nguyễn Công H1 hiện đang đi lao động xuất khẩu tại

Q. Tuy nhiên, trước khi đi lao động ngoài nước, anh H1 đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã P, huyện Q, thành phố Hà Nội (nay là xóm E, thôn P, xã Q, thành phố Hà Nội) nên chị H khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 10 – Hà Nội giải quyết ly hôn với anh H1 là đúng thẩm quyền theo Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Luật số 85/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tụng dân sự, Luật tụng hành chính, Luật pháp người chưa thành niên, Luật sản và Luật giải, đối thoại tại Tòa án.

Anh H1 hiện đang đi lao động ngoài nước nhưng gia đình không biết địa

chỉ hiện tại của anh H1 ở đâu. Vì vậy, Toà án nhân dân Khu vực 10 – Hà Nội xét xử vắng mặt anh H1 theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ là đúng quy định của pháp luật.

[2- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Nguyễn Công

H1 tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 06/10/2008 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Q, thành phố Hà Nội (nay là xã Q, thành phố Hà Nội). Tại thời điểm kết hôn chị H và anh H1 có đủ điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh H1 là hợp pháp.

Theo lời trình bày của chị H, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không

hạnh phúc. Năm 2019 anh H1 xuất cảnh sang Hàn Quốc lao động và từ đó đến nay không về Việt Nam, vợ chồng ít liên lạc với nhau, anh H1 không thực hiện đầy đủ trách nhiệm của người chồng, người cha đối với gia đình, không quan tâm chăm sóc vợ con. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn và yêu cầu được ly hôn.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt, thông báo các

văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng anh H1 không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cũng không thể hiện mong muốn đoàn tụ gia đình.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị H, thấy từ năm 2019 đến nay anh H1 đi lao

động ngoài nước và không thường xuyên liên lạc với chị H, anh H1 đã sống xa gia đình trong thời gian dài, không cùng chị H thực hiện quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được. Mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài, đời sống chung không còn tồn tại, tình trạng hôn nhân đã lâm vào trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của chị H là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

[3Về con chung: Chị H và anh H1 có hai con chung là Nguyễn Thùy T, sinh

ngày 21/8/2010 và Nguyễn Thùy C, sinh ngày 29/9/2014. Hiện nay cả hai cháu đang do chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, cuộc sống ổn định. Anh H1 đang ở nước ngoài, không trực tiếp chăm sóc con và cũng không có ý kiến gì về việc nuôi con. Xét thấy các cháu đều có nguyện vọng được ở với mẹ và anh H1 hiện không sinh sống tại Việt Nam nên việc giao hai cháu cho chị H tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là bảo đảm quyền lợi mọi mặt của các cháu nên cần chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con nên

Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Anh H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

[4 Về tài sản chung, nợ chung: Chị H xác định vợ chồng không có tài sản

chung, không có nợ chung và anh H1 không có ý kiến gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5 Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy

định của pháp luật nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[6 Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân

sự. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật nhân và gia đình.

Căn cứ Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố

tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu H.

quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H ly hôn anh Nguyễn Công H1.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thùy T, sinh ngày 21/8/2010 và cháu

Nguyễn Thùy C, sinh ngày 29/9/2014 cho chị Nguyễn Thị Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Công H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Nguyễn Công H1 do chị H

không yêu cầu.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn

đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Thi hành án dân sự thành phố H theo biên lai số 0008466 ngày 08/4/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời

hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND Thành phố Hà Nội;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKSND khu vực 10 – Hà Nội;

- Thi hành án dân sự TP Hà Nội;

- Các đương sự;

- UBND xã Quốc Oai, Hà Nội;

- Lưu HS, VP.

Nguyễn Thị Thu Thủy HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Nơi nhận:

- TAND Thành phố Hà Nội;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND huyện Thạch Thất;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- Chi cục THADS huyện Thạch Thất;

- Các đương sự;

- UBND xã Hữu Bằng;

- Lưu HS, VP.

Đỗ Ngọc Sơn HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Nơi nhận:

- TAND Thành phố Hà Nội;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND huyện Thạch Thất;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- Chi cục THADS huyện Thạch Thất;

- Các đương sự;

- UBND xã Hữu Bằng;

- Lưu HS, VP.

Đỗ Ngọc Sơn HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Cỡ chữ