- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Đòi quyền sử dụng đất và di dời tài sản giữa Trầ Văn  và Hồ Văn T"
- Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 360/2023/DS-PT Ngày: 30- 6- 2023 V/v tranh chấp: “Đòi quyền sử dụng đất và di dời tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Triều
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Diệp Thúy
Bà Trần Thị Kim Em
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Hà Vy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 121/2023/TLPT-DS ngày 11 tháng 4 năm 2023 về tranh chấp “Đòi quyền sử dụng đất và di dời tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2023/DS-ST ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện G, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 579/2023/QĐ-PT ngày 05 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Trần Văn Â, sinh năm 1964 (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã K, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Hồ Văn T, sinh năm 1966.
Địa chỉ: Ấp C, xã K, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện theo ủy quyền: Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1974 (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang. (Theo văn bản ủy quyền lập ngày: 22/10/2022)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Hồ Thanh S, sinh năm 1974 (Vắng mặt)
2. Hồ Văn H, sinh năm 1976 (Vắng mặt)
3. Hồ Văn L, sinh năm 1990 (Vắng mặt)
4. Nguyễn Văn T, sinh năm 1989 (Vắng mặt)
5. Nguyễn Minh T1, sinh năm 1985 (Vắng mặt)
6. Trần Văn N, sinh năm 1966 (Vắng mặt)
7. Nguyễn Hoài B, sinh năm 1966 (Vắng mặt)
8. Hồng Thị T, sinh năm 1963 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã K, huyện G, Tiền Giang.
* Thành viên hộ ông Trần Văn Â:
9. Trần Thị Ngọc T, sinh năm 1990 (Vắng mặt)
10. Trần Thị Ngọc K, sinh năm 1992 (chết)
11. Trần Đông N, sinh năm 1994 (Vắng mặt)
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của chị Khắc:
+ Trần Văn Â, sinh năm 1964 (Có mặt)
+ Võ Thị C, sinh năm 1965. (chết)
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Chương:
+ Võ Văn S, sinh năm 1944 (Vắng mặt)
+ Cam Thị L, sinh năm 1940 (Vắng mặt)
+ Trần Văn Â, sinh năm 1964 (Có mặt)
+ Trần Thị Ngọc T, sinh năm 1990 (Vắng mặt)
+ Trần Thị Ngọc K, sinh năm 1992 (chết).
+ Trần Đông N, sinh năm 1994 (Vắng mặt)
+ Trần Ngọc N, sinh năm 1996 (Vắng mặt)
+ Trần Chánh L, sinh năm 1997 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã K, huyện G, Tiền Giang.
* Thành viên hộ bà Hồ Thị M:
12. Hồ Văn T, sinh năm 1966 (Vắng mặt)
13. Hồ Thị M, sinh năm 1968 (Vắng mặt)
14. Hồ Thị Ánh V, sinh năm 1988 (Vắng mặt)
15. Hồ Thị Ánh S, sinh năm 1990 (Vắng mặt)
16. Hồ Thị Ánh H, sinh năm 1995 (Vắng mặt)
17. Hồ Thị T, sinh năm 1984 (Vắng mặt)
18. Hồ Thị Mỹ H, sinh năm 1987 (Vắng mặt)
19. Trần Thị M, sinh năm 1964 (Vắng mặt)
20. Hồ Văn Đ, sinh năm 1992 (Vắng mặt)
21. Ngô Thị B, sinh năm 1926 (chết).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ Bạch:
+ Hồ Văn H, sinh năm 1969 (Vắng mặt)
+ Hồ Văn T, sinh năm 1975 (Vắng mặt)
+ Hồ Văn T, sinh năm 1966. (có mặt)
+ Hồ Văn C, sinh năm 1947 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã K, huyện G, Tiền Giang.
+ Hồ Thị V, sinh năm 1954 (Vắng mặt)
22. Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1987 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: 2376 tổ 4, khu phố L, thị trấn V, huyện G, Tiền Giang.
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Trần Văn Â.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm;
* Nguyên đơn ông Trần Văn  trình bày:
Hiện hộ gia đình ông đang quản lý, sử dụng thửa đất số 81, tờ bản đồ số 38, diện tích 5.794,4m2 loại đất lúa, tọa lạc Ấp C, xã K, huyện G, tỉnh Tiền Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00088 do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 10/9/2013, do ông đại diện hộ đứng tên. Nguồn gốc đất do ông được cha mẹ ông tặng cho. Ông trực tiếp quản lý, sử dụng từ năm 1984 đến năm 1997 tiến hành đăng ký kê khai và được UBND huyện G cấp quyền sử dụng đất thuộc thửa số 96, diện tích 5.820m2 theo giấy chứng nhận số 00005 ngày 09/9/1997 và đến năm 2012 được cấp đổi thành thửa số 81 như hiện nay.
Ranh giới hướng Nam của thửa số 81 giáp với 02 thửa đất số 190 và 191 của hộ bà Hồ Thị M nhưng hiện do gia đình ông T đang quản lý, sử dụng. Ranh giới đất hai bên trước đây là bờ đất hình thành trên đất của ông rộng khoảng 02m, trên bờ đất này ông có trồng hàng rào cây xương rồng vào năm 1976 để làm ranh nhưng ông không trồng ngay ranh mà có chừa ra chiều ngang khoảng hơn 1,5m để làm lối đi chung. Bên phía đất gia đình ông T thì ông T có đào đường mương rộng khoảng 0,6m đến 0,7m; sâu khoảng 0,5m dọc theo ranh hướng Nam của bờ đất để lấy nước từ kênh vào ruộng ở phía trong để canh tác lúa. Do mương nước sử dụng lâu ngày làm bờ đất của ông bị sạt lở nên năm 1990 ông đã ban bờ và chặt bỏ hàng rào xương rồng nhưng có chừa lại bờ đất giáp ranh đất ông T ngang khoảng 01m để giữ nước.
Ranh giới hướng Đông của thửa số 81 trước đây giáp với thửa đất số 95 của ông Hồ Văn H (anh của ông T) và hiện giáp với đường công cộng. Ranh giới đất hai bên trước đây cũng là bờ đất ngang khoảng 2m hình thành trên đất của ông, trên bờ đất này ông cũng trồng hàng rào cây xương rồng để làm ranh từ năm 1976 và đến năm 1990 ông chặt bỏ hàng rào và ban bờ nhưng cũng chừa lại bờ đất ngang khoảng 01 m để giữ nước như ranh cạnh Nam, do bên phía đất ông H cũng là đường mương nước do ông T sử dụng làm bờ đất của ông bị sạt lở.
Sau này, ông T san lấp 02 thửa 190 và 191 từ đất ruộng thành nền và cũng lấp luôn đường mương nước dọc theo ranh hướng Nam và hướng Đông của thửa 81 thay thế bằng đường ống nhựa để dẫn nước ngay vị trí đường mương cũ. Bên đất của ông thì ông có đặt ni lông dọc theo sát mép bờ để giữ nước và ông có cho em trai của ông là ông Trần Văn N đặt ống dẫn nước dọc theo ranh hướng Đông kế bên đường ống của ông T cách ranh đất hai bên khoảng 0,8m. Sau này, ông san lấp ao thành ruộng để canh tác lúa hết toàn bộ diện tích thửa 81 và cho người khác thuê sử dụng khoảng 10 năm nay.
Ngoài ra, dọc theo ranh hướng Đông và hướng Nam của thửa 81, ông T có dựng các trụ điện bằng cây để dẫn điện vào nhà và dựng trên bờ đất sát mép ruộng của ông từ năm 1997-1998 và đến năm 2019 thì ông T đổi sang dựng 05 trụ bê tông dọc theo ranh hướng Đông và dựng 02 trụ bê tông cùng hàng rào trụ bê tông, lưới kẽm B40 dọc theo ranh hướng Nam của thửa 81 nhưng đã lấn chiếm hết bờ đất của ông làm ông không có lối đi để vào ruộng. Ông nhiều lần yêu cầu ông T dỡ bỏ hàng rào và 07 trụ điện để trả lại đất cho ông nhưng ông T không thực hiện nên phát sinh tranh chấp.
- Theo đơn khởi kiện ông  yêu cầu ông T:
1. Di dời 02 trụ điện bê tông (cao khoảng 4m) và hàng rào lưới kẽm B40 để trả lại hộ gia đình ông phần đất ngang 0,5m và dài 56,7m với diện tích 28m2 ở vị trí cạnh Nam của thửa 81.
2. Di dời 05 trụ điện bê tông (cao khoảng 4m) để trả lại hộ gia đình ông phần đất ngang 0,2m và 0,5m; dài 70,5m với diện tích 15m2 ở vị trí cạnh Đông của thửa 81.
- Tại phiên tòa sơ thẩm, ông  vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như nêu trên và ông tự nguyện hỗ trợ ông T chi phí di dời tài sản trên đất là 1.000.000 đồng. Đối với chi phí tố tụng mà ông đã nộp thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
* Bị đơn ông Hồ Văn T có đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Hoàng A trình bày:
Hiện gia đình ông T đang quản lý sử dụng 02 thửa đất số 190 có diện tích 730m2 và thửa đất số 191 có diện tích 1.230m2, cùng tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại Ấp C, xã K, huyện G, tỉnh Tiền Giang. Nguồn gốc đất do trước đây cháu ông T là chị Hồ Thị M đại diện hộ đứng tên quyền sử dụng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00178CX do UBND huyện G cấp ngày 09/9/1997 và đã bán cho ông Nguyễn Văn Y (hiện không rõ nơi cư trú), sau đó chị M bỏ địa phương đi đến nay không rõ tung tích nên ông T đã thỏa thuận với ông Y để chuộc lại nhưng ông T không nhớ thời điểm nào. Tuy nhiên, gia đình ông T đã quản lý và sử dụng 02 thửa đất này từ khoảng 30 năm nay dù chưa hoàn tất thủ tục chuyển quyền cho ông T đứng tên riêng.
Ranh giới hướng Bắc của 02 thửa đất giáp với thửa đất số 81 của hộ ông Â. Ranh giới đất hai bên trước đây là bờ đất ngang khoảng 0,6m hình thành trên đất của hai bên mà không phải là đất của ông  như ông  trình bày. Khi đó bên phía đất gia đình ông T là đất ruộng và đã có sẵn đường mương dẫn nước dọc theo bờ ranh hướng Bắc. Đến năm 2001, gia đình ông T san lấp 02 thửa đất số 190 và 191 thành đất nền; đồng thời cũng lấp luôn đường mương nước để thay thế bằng đường ống nhựa dẫn nước ở vị trí cách ranh đất hai bên khoảng 0,5m. Đối với hiện trạng bờ ranh cũ vẫn được giữ nguyên vì gia đình ông T sử dụng bờ ranh này để làm lối đi từ nhà ra đường công cộng (bờ kênh). Đồng thời, để xổ xả nước từ ruộng lúa phía trong ra kênh thì gia đình ông T còn sử dụng đường mương nước trên đất của ông Hồ Văn H dọc theo ranh giới hướng Tây và giáp ranh với thửa 81 của ông Â. Gia đình ông T còn sử dụng bờ đất dọc theo mương nước của ông H để làm lối đi nối liền với bờ đất nêu trên để đi ra bờ kênh (đường công cộng). Hiện trạng bờ đất giữa đất ông H và đất ông  trước đây cũng rộng khoảng 0,6m và bờ đất này cũng là lối đi chung.
Ông T có dựng các trụ điện (bằng cây) dọc theo 02 bờ đất nêu trên nhưng bên phía đất của gia đình ông và đất của hộ ông Hồ Văn H (anh trai của ông T), hộ ông Hồ Văn T (em trai của ông T) để dẫn điện vào nhà sinh hoạt từ khoảng năm 1990. Đến năm 2003, ông T và các anh em của ông T sử dụng chung đường dây điện này đã hùn tiền thay các trụ cây bằng 05 trụ điện bê tông dọc theo bờ ranh hướng Đông của thửa số 81 bên phía đất của ông H, sau này ông H đã bỏ phần đất này làm đường đi công cộng và 02 trụ điện bê tông dọc theo bờ ranh hướng Nam của thửa số 81 ở vị trí đường dây điện cũ.
Quá trình sử dụng đất, do bên phía đất ông  là đất ao và liếp (ông  đã san lấp thành đất ruộng khoảng 10 năm nay) nên làm sạt lỡ 1/2 bờ đất tức là khoảng 0,3m bên phía đất của ông  chứ ông T không sử dụng lấn chiếm qua đất ông  như ông  trình bày. Trước đây, hai bên không xảy ra mâu thuẫn nhưng từ tháng 3-4/2020, khi ông T kéo hàng rào trụ bê tông, lưới kẽm B40 dọc theo ranh giữa 02 thửa 190, 191 và thửa 81 để gà vịt không ra ruộng lúa thì ông  yêu cầu ông T phải chừa ra phần bờ đi ngang 0,5m, do ông T không đồng ý nên phát sinh tranh chấp.
Nay ông T không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông  vì ông T không sử dụng lấn chiếm đất thuộc thửa 81 của hộ ông Â, hàng rào và 02 trụ điện bê tông là ông T dựng trên 02 thửa đất số 190, 191; đối với 05 trụ điện bê tông còn lại thì ông dựng trên đường công cộng.
* Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là các thành viên hộ ông Trần Văn  gồm chị Trần Thị Ngọc T và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của chị Trần Thị Ngọc K, bà Võ Thị C thống nhất trình bày: Thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn Â. Ngoài ra, không có yêu cầu gì khác.
* Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm bà Trần Thị M, chị Hồ Thị Mỹ H, anh Hồ Văn Đ, chị Hồ Thị T, chị Nguyễn Thị Thanh N, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ Ngô Thị B gồm: ông Hồ Văn H, ông Hồ Văn T, ông Hồ Văn T, ông Hồ Văn C và bà Hồ Thị V thống nhất trình bày: Thống nhất với ý kiến của bị đơn ông Hồ Văn T.
* Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm: Bà Hồ Thị M, chị Hồ Thị Ánh V, chị Hồ Thị Ánh S và chị Hồ Thị Ánh H không đến Tòa án theo giấy triệu tập và không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, dù Tòa án đã tiến hành triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hoài B và bà Hồng Thị T thống nhất trình bày:
Ông bà thuê thửa đất số 81 của hộ ông  khoảng 02 năm nay để canh tác lúa. Nay ông bà không có ý kiến gì về việc tranh chấp ranh giới đất giữa hộ ông  và hộ ông T.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm ông Hồ Văn C, ông Hồ Văn T, anh Hồ Thanh S, anh Hồ Văn H, anh Hồ Văn L, anh Nguyễn Văn T và anh Nguyễn Minh T1 thống nhất trình bày:
Ông C là anh trai của ông T, còn anh S và anh H đều là con trai của ông C. Anh L là con trai của ông T, anh T là con rể của ông T. 05 trụ điện bê tông hiện ông  yêu cầu ông T di dời thì do ông H, ông T3, anh S, anh H, Anh L, anh T cùng ông T hùn tiền mua tại thị xã G với giá 75.000 đồng/m và cùng nhau hùn tiền mua vật tư để đổ đà bê tông dưới đất dựng cột nhưng không nhớ thời điểm nào. Hiện chỉ còn ông T3 và con rể của ông T3 là anh Nguyễn Thanh T2, hộ ông T và 02 người con trai của ông T là Anh L và anh T cùng sử dụng chung 05 trụ điện này. Vị trí cắm 05 trụ điện bê tông nêu trên đã được đào đà đổ bê tông khoảng 1/3 bờ và đã dựng ở vị trí giáp với mép ruộng của ông Â, trước đây là ranh giới giữa đất ông H và đất ông Â. Nay ông C và 02 người con của ông C là anh S và anh H thống nhất để lại 05 trụ điện này cho gia đình ông T3, ông T và 02 người con ông T sử dụng nên để ông T và ông T3 toàn quyết quyết định đối với yêu cầu của ông Â.
Ông T3, ông T, Anh L, anh T và anh Nguyễn Thanh T2 không đồng ý di dời 05 trụ điện này vì trước đây được cắm trên đất của ông H nhưng sau này ông H đã bỏ phần đất này làm đường đi công cộng, hơn nữa nay ông H cũng không đồng ý cho di dời các trụ điện này sang đất của ông H nữa và 05 trụ điện này không thể di dời vì đã đổ đà bê tông kiên cố phía dưới chân trụ. Ngoài đường dây dẫn điện này thì các hộ này không còn đường nào khác nên ông T3, Anh L, anh T và anh Nguyễn Thanh T2 thống nhất với ý kiến của ông T và đồng ý để ông T đại diện gửi đơn phản tố yêu cầu được mắc đường dây tải điện qua thửa 81 của hộ ông  ở vị trí như hiện nay. Tuy nhiên, trước khi mở lại phiên tòa thì ông T không có yêu cầu phản tố và tại phiên tòa, ông T chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn N trình bày:
Vào khoảng 15 năm trước, ông có đặt đường ống dẫn nước từ vị trí đất nhà ông đi ngang qua đất ông Trần Văn  và đến đất ông Hồ Văn T, từ đất ông T3 xuống khoảng 20m thì ông đặt ống ở vị trí nửa bờ đất của ông  và từ 20m này trở xuống do bờ đất cứng nên ông đặt vào sát mé bờ, chứ không đặt ở giữa bờ nữa. Ông đặt đường ống này trước khi ông T cặm cột điện.
* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 03/2023/DS-ST ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện G, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:
Áp dụng:
- Các Điều 166, 168 và 203 Luật Đất đai năm 2013;
- Các Điều 166, 175 và 176 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 156, 165, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn Â. Buộc ông Hồ Văn T, ông Hồ Văn T, anh Nguyễn Minh T1, anh Nguyễn Văn T và anh Hồ Văn L có nghĩa vụ di dời 05 trụ điện bê tông dọc theo ranh hướng Đông của thửa số 81 ở các vị trí 6, 7, 8, 9 và 10 trong sơ đồ đo đạc ngày 07/12/2022 để trả lại cho hộ ông Trần Văn  phần đất có diện tích 6m2 thuộc thửa số 81, tờ bản đồ số 38 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00088 do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 10/9/2013, đất tọa lạc tại Ấp C, xã K, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
Phần đất có vị trí:
+ Đông giáp đường công cộng.
+ Tây giáp đất hộ Trần Văn Â.
+ Nam giáp đất đường công cộng và đất hộ Trần Văn Â.
+ Bắc giáp đất hộ Trần Văn Â.
(có sơ đồ đo đạc kèm theo)
Ghi nhận việc ông Trần Văn  tự nguyện hỗ trợ ông Hồ Văn T chi phí di dời 05 trụ điện bê tông là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn  về việc yêu cầu ông Hồ Văn T trả lại phần đất có diện tích 8,5m2 ở vị trí cạnh Đông thuộc thửa đất số 81 nêu trên.
3. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn  về việc yêu cầu ông Hồ Văn T di dời 02 trụ điện bê tông và hàng rào trụ bê tông, lưới kẽm B40 cao 1,2m và dài 56,25m để trả lại phần đất có diện tích 28m2 thuộc thửa đất số 81 nêu trên.
4. Về chi phí tố tụng: Ông T có nghĩa vụ hoàn lại ông  số tiền 3.147.800 đồng (Ba triệu một trăm bốn mươi bảy nghìn tám trăm đồng).
Ngoài ra bản án bản án sơ thẩm còn tuyên về phần án phí, quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 16/01/2023, ông đơn ông Trần Văn  kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm nêu trên, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa án theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Trần Văn  vẫn giử nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo
Bị đơn không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn  giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nội dung yêu cầu kháng cáo của bị đơn, lời trình bày của các đương sự, và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang.
Về thời hạn kháng cáo của ông Trần Văn  còn trong thời hạn luật định, đúng theo quy định tại các Điều 271, 272 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Đòi quyền sử dụng đất và di dời tài sản”.
[ 3] Về tố tụng: Nguyên đơn ông Trần Văn Â, bị đơn ông Hồ Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và có mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm Hồ Thanh S, Hồ Văn H, Hồ Văn L, Nguyễn Văn T, Nguyễn Minh T1, Trần Văn N, Nguyễn Hoài B, Hồng Thị T, Trần Thị Ngọc T, Trần Đông N, Võ Văn S, Cam Thị L, Trần Thị Ngọc T, Trần Đông N, Trần Ngọc N, Trần Chánh L, Hồ Thị M, Hồ Thị Ánh V, Hồ Thị Ánh S, Hồ Thị Ánh H, Hồ Thị T, Hồ Thị Mỹ H, Trần Thị M, Hồ Văn Đ, Ngô Thị B, Hồ Văn H, Hồ Văn T, Hồ Văn T, Hồ Văn C, Hồ Thị V, Nguyễn Thị Thanh N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung vụ án: Hiện hộ gia đình ông Trần Văn  đang quản lý, sử dụng thửa đất số 81, tờ bản đồ số 38, diện tích 5.794,4m2 loại đất lúa, tọa lạc Ấp C, xã K, huyện G, tỉnh Tiền Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00088 do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 10/9/2013, do ông đại diện hộ đứng tên. Nguồn gốc đất do ông được cha mẹ ông tặng cho. Ông trực tiếp quản lý, sử dụng từ năm 1984 đến năm 1997 tiến hành đăng ký kê khai và được UBND huyện G cấp quyền sử dụng đất thuộc thửa số 96, diện tích 5.820m2 theo giấy chứng nhận số 00005 ngày 09/9/1997 và đến năm 2012 được cấp đổi thành thửa số 81 như hiện nay.
Theo như ông  trình bài việc ông T trồng trụ điện và lấn ranh đất của ông cụ thể ở hai khu vực như sau:
Về hướng Nam của thửa số 81 giáp với 02 thửa đất số 190 và 191 của hộ bà Hồ Thị M nhưng hiện do gia đình ông T đang quản lý, sử dụng. phần tranh chấp này có vị trí mép bờ đất và 02 trụ điện bê tông cùng hàng rào trụ bê tông, lưới kẽm B40 cao 1,2m; dài 56,25m của hộ ông T.
Về hướng Đông của thửa số 81 do ông  đứng tên thì hiện 05 trụ điện bê tông cùng đường dây dẫn điện của ông T ở các vị trí 6, 7, 8, 9 và 10 trong sơ đồ đo đạc ngày 07/12/2022 đang cắm trên phần đất có diện tích 6m2 thuộc thửa số 81 của hộ ông Â.
Do đó ông  yêu cầu: Về hướng Nam ông T trả lại cho ông phần 56,25m2 đất mà ông T đã lấn và trồng trụ điện. Về hướng Đông thì ông T phải dời các trụ điện ra khỏi phần đất của ông.
Về hướng Đông của thửa số 81 do ông  đứng tên thì hiện 05 trụ điện bê tông cùng đường dây dẫn điện của ông T ở các vị trí 6, 7, 8, 9 và 10 và đường công cộng theo vị trí do ông  xác định thì có diện tích 8,5m2 chồng lấn với đường công cộng, tức là phần diện tích này thuộc đất đường công cộng và chỉ có diện tích 6m2 còn lại như thể hiện trên sơ đồ ngày 07/12/2022 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện là thuộc quyền sử dụng đất của hộ ông  ở thửa số 81.
- Căn cứ vào biên bản thẩm định tại chỗ thì trên diện tích 6m2 này nằm trong phần đất diện tích 5.794,4m2 loại đất lúa, tọa lạc Ấp C, xã K, huyện G, tỉnh Tiền Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00088 do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 10/9/2013, do ông đại diện hộ đứng tên. Hiện ông T, ông T3, Anh L, anh T và anh T2 (con rể của ông T3) đã tự cắm 05 trụ điện bê tông để dẫn diện sinh hoạt từ đường công cộng vào nhà ở các vị trí 6,7,8,9 và 10 trên sơ đồ đo đạc từ năm 2020. Dù đường dây điện này hình thành đã lâu và hộ ông  không có ý kiến phản đối nhưng các hộ này đã thừa nhận tự ý cắm 05 trụ điện này, không hỏi ý kiến và cũng không được sự đồng ý của hộ ông Â. Nay hộ ông  kiện đòi nên cần buộc ông T, ông T3, Anh L, anh T và anh T2 (con rể của ông T3) phải có nghĩa vụ di dời 05 trụ điện này để trả lại quyền sử dụng đất cho hộ ông Â. Ghi nhận ông  tự nguyện hỗ trợ ông T chi phí di dời là 1.000.000 đồng. là có cơ sở.
Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện G Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn  là có căn cứ đúng pháp luật. Buộc ông Hồ Văn T, ông Hồ Văn T, anh Nguyễn Minh T1, anh Nguyễn Văn T và anh Hồ Văn L có nghĩa vụ di dời 05 trụ điện bê tông dọc theo ranh hướng Đông của thửa số 81 ở các vị trí 6, 7, 8, 9 và 10 trong sơ đồ đo đạc ngày 07/12/2022 để trả lại cho hộ ông Trần Văn  phần đất có diện tích 6m2 thuộc thửa số 81, tờ bản đồ số 38 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00088 do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 10/9/2013, đất tọa lạc tại Ấp C, xã K, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
Riêng về phần hướng Nam ông  yêu cầu ông T trả lại cho ông phần diện tích 56,25m và di dời 02 trụ điện bê tông cùng hàng rào trụ bê tông, lưới kẽm B40 cao 1,2m; dài 56,25m của hộ ông T căn cứ vào biên bản đo đạc và kết quả thẩm tra thì phần diện tích 56,25m và di dời 02 trụ điện bê tông cùng hàng rào trụ bê tông, lưới kẽm B40 cao 1,2m; dài 56,25m của hộ ông T đều nằm bên phần đất của hộ bà M. Cho nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông  là yêu cầu ông T trả lại ông phần đất này.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp nhận định trên nên chấp nhận.
Án phí: Do không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, ông Trần Văn  phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 308; Điều 26; Điều 35; Điều 36; Khoản 2 Điều 217; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 254 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn Â;
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 03/2023/DS-ST ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện G, tỉnh Tiền Giang.
Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn Â. Buộc ông Hồ Văn T, ông Hồ Văn T, anh Nguyễn Minh T1, anh Nguyễn Văn T và anh Hồ Văn L có nghĩa vụ di dời 05 trụ điện bê tông dọc theo ranh hướng Đông của thửa số 81 ở các vị trí 6, 7, 8, 9 và 10 trong sơ đồ đo đạc ngày 07/12/2022 để trả lại cho hộ ông Trần Văn  phần đất có diện tích 6m2 thuộc thửa số 81, tờ bản đồ số 38 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00088 do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 10/9/2013, đất tọa lạc tại Ấp C, xã K, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
Phần đất có vị trí:
+ Đông giáp đường công cộng.
+ Tây giáp đất hộ Trần Văn Â.
+ Nam giáp đất đường công cộng và đất hộ Trần Văn Â.
+ Bắc giáp đất hộ Trần Văn Â.
(Có sơ đồ đo đạc kèm theo)
Ghi nhận việc ông Trần Văn  tự nguyện hỗ trợ ông Hồ Văn T chi phí di dời 05 trụ điện bê tông là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn  về việc yêu cầu ông Hồ Văn T trả lại phần đất có diện tích 8,5 m2 ở vị trí cạnh Đông thuộc thửa đất số 81 nêu trên.
3. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn  về việc yêu cầu ông Hồ Văn T di dời 02 trụ điện bê tông và hàng rào trụ bê tông, lưới kẽm B40 cao 1,2m và dài 56,25m để trả lại phần đất có diện tích 28 m2 thuộc thửa đất số 81 nêu trên.
4. Về chi phí tố tụng: Ông T có nghĩa vụ hoàn lại ông  số tiền 3.147.800 đồng (Ba triệu một trăm bốn mươi bảy nghìn tám trăm đồng).
Trường hợp ông Trần Văn Â, chậm thi hành án số tiền 1.000.000 đồng cho ông Hồ Văn T thì ông  phải chịu tiền lãi tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự.
Trường hợp ông Hồ Văn T chậm thi hành án số tiền 3.147.800 đồng cho ông Trần Văn  thì ông T phải chịu tiền lãi tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự.
5. Về án phí: Ông Trần Văn  phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông đã nộp là 600.000 đồng theo biên lai thu số 0018305 ngày 25/11/2020 và biên lai thu số 0028472 ngày 16/01/2023, sau khi cấn trừ xem như ông  nộp xong án phí.
- Ông T phải chịu 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
6. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo qui định các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Tiền Giang; - TAND huyện G; - Chi cục THADS huyện G; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Triều |