vanban.org

Bản án 36

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội : “Trốn khỏi nơi giam”.

1/ Áp dụng Khoản 1 Điều 386 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Khoản 3 Điều 7; Điều 17; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 56; Điều 38; Điều 50 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. 2/ Xử: Phạt Bị cáo Nguyễn Thành T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tộ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trốn khởi nơi giam - phạm tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị áp giải, đang bị xét xử (điều 386 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội : “Trốn khỏi nơi giam”.
  • Căn cứ chính? Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MỸ THO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 36/2019/HS-ST
Ngày: 22/4/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO,TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Trần Văn Thắng.

+ Bà Đoàn Huỳnh Cúc

– Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Ni -Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Bạch – kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 21/2019/TLST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2019/QĐST-HS ngày 02/4/2019 đối với bị cáo:

1/Bị cáo:

- Họ và tên: Nguyễn Thành T, sinh năm: 1983, tại tỉnh An Giang.

- Nơi ĐKNKTT: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.

- Chỗ ở: Số A34/15, Ấp M, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.

- Nghề nghiệp: Không.

- Trình độ học vấn: 12/12.

- Cha: Nguyễn Thành T1, sinh năm: 1949.

- Mẹ: Lê Thị T2, sinh năm: 1953;

- Vợ bị cáo Lưu Đỗ Ngọc T3, sinh năm 1997.

- Bị cáo có 02 người con lớn sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2016

Tiền sự : Không.

Tiền án:

Ngày 01/4/2014, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện B thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, theo bản án số 96/2014/HSST. Bị cáo được đặc xá ngày 31/8/2015.

- Ngày 03/8/2017, bị cáo Nguyễn Thành T bị Tòa án nhân dân thành phố M xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo Khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999; sửa đổi, bổ sung năm 2009. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án, trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/7/2016 đến ngày 09/3/2017.

- Hiện bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam Phước Hòa.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

2.1/Nguyễn Thanh P , sinh năm 1982 ( có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Số 26, tổ 1, ấp G, xã P, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

2.2/Nguyễn Văn R, sinh năm 1988(có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Số 267/54, đường T, Phường M, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Chỗ ở hiện nay: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

2.3/Trần Minh T4 , sinh năm 1990 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Số 36/7, đường N, Phường T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyễn Thành T, Nguyễn Thanh P, Nguyễn Văn R, Trần Minh T4 là các phạm nhân đang bị tạm giam tại “Buồng tạm giam số 1” của Nhà tạm giữ Công an thành phố M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 14/8/2016, P rủ R và T đục tường buồng tạm giam để bỏ trốn thì R, T đồng ý cùng thực hiện. Ngày 15/8/2016, cả ba luân phiên nhau sử dụng 02 thanh kim loại và 01 thanh gỗ đục tường bên trong nhà vệ sinh của buồng tạm giam. Đến ngày 16/8/2016, Trần Minh T4 cùng tham gia với vai trò cảnh giới để P, R, T trực tiếp đục tường. Nhằm tránh sự phát hiện của các cán bộ Nhà tạm giữ; các đối tượng sử dụng chăn, mền bịt kín các lam thông gió để giảm tiếng ồn khi đục tường; sử dụng vải, bao nylon màu đen che lỗ đục tường. Đến khoảng 19 giờ ngày 16/8/2016,các đối tượng đã đục được một lỗ trống có kích thước (20x40)cm và P, R, T4 lần lượt chui qua lỗ trống trên thoát ra ngoài. Sau khi P, R, T4 đã trốn được ra khỏi buồng tạm giam, đến lượt T chui ra được nửa người thì bị cán bộ quản giáo Nhà tạm giữ Công an thành phố M phát hiện bắt giữ lại. Trong giai đoạn truy tố, Nguyễn Thành T bỏ trốn. Ngày 18/11/2018, Nguyễn Thành T bị Công an phường A, Quận M , Thành phố Hồ Chí Minh bắt theo lệnh truy nã.

Vật chứng trong vụ án gồm: 12 mảnh vỡ bêtông; 06 mảnh gạch vỡ màu đỏ; 01 thanh kim loại kích thước (15x1,5x0,3)cm; 01 thanh kim loại hình chữ L kích thước (07x09x1,5x0,3)cm; 01 đoạn gỗ kích thước (77x10x05)cm, một đầu buộc mảnh vải màu đỏ, dây buộc màu đen; 02 tấm vải mền.

Các bị cáo Nguyễn Thanh P, Nguyễn Văn R, Trần Minh T4 đã bị Tòa án nhân dân thành phố M đưa ra xét xử ngày 26/6/2018 (Bản án số 62/2018/HS-ST) xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P 02 (hai) năm tù về tội : “Trốn khỏi nơi giam”. Tổng hợp hình phạt 07 (bảy) năm tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” của bản án số 85/2017/HSST ngày 06/11/2017. Buộc bị cáo Nguyễn Thanh P phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 09 năm tù.Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án (được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam 03/8/2016 đến ngày 27/3/2017).

Phạt bị cáo Nguyễn Văn R 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”. Tổng hợp hình phạt 07 (bảy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của bản án số 28/2018/HSST ngày 13/4/2018. Buộc bị cáo Nguyễn Văn R phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án (được trù đi thời hạn bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/5/2016 đến ngày 07/02/2017).

Phạt bị cáo Trần Thanh T4 01 năm tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”. Tổng hợp hình phạt 02 (hai) 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của bản án số 77/2017/HSST ngày 25/9/2017. Buộc bị cáo Trần Minh T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án (được trừ đi thời hạn bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/6/2016 đến ngày 17/3/2017 thìtại ngoại

Ngoài ra bản án còn tuyên tịch thu tiêu hủy 12 mảnh vỡ bêtông; 06 mảnh gạch vỡ màu đỏ; 01 thanh kim loại kích thước (15x1,5x0,3)cm; 01 thanh kim loại hình chữ L kích thước (07 x 09 x1,5x 0,3)cm; 01 đoạn gỗ kích thước (77 x10 x 05)cm, một đầu buộc mảnh vải màu đỏ, dây buộc màu đen; 02 tấm vải mền và án phi hình sự sơ thẩm, quyền kháng cáo.

Trong quá trình điều tra, truy tố; bị cáo Nguyễn Thành T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với vật chứng thu giữ, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Tuy nhiên bị cáo Nguyễn Thành T đang có tiền án thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm”.

Tại bản cáo trạng số 33/QĐ-VKS ngày 18/02/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố M đã truy tố Nguyễn Thành T về tội “ Trốn khỏi nơi giam”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 386 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

Theo Khoản 1 Điều 311 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 có khung hình phạt từ sáu tháng đến năm năm tù; tại Khoản 1 Điều 386 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ sáu tháng đến ba năm tù. Do đó, cần áp dụng một số quy định có lợi cho người phạm tội theo Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điểm b Khoản 1; Điểm h Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội 14.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 386 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điểm h Khoản 1 Điều 52; Khoản 3 Điều 7, Điều 17; Điều 56; Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Tý từ 18-24 tháng tù về tội “ Trốn khỏi nơi giam”.

Về vật chứng: Đã xừ lý xong theo bản án số 62/208/HS-ST ngày 26/6/2018.

Bị cáo Nguyễn Thành T đang chấp hành án tại trại gaim Phước Hòa nên áp dụng Điều 56 Bộ Luật sự hình sự tổng hợp hình bị cáo phải chấp hành.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại hay có ý kiến gì về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thành T khai nhận: Bị cáo đang bị tạm giam tại “Buồng tạm giam số 1” của Nhà tạm giữ Công an thành phố M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 14/8/2016, P rủ R và T đục tường buồng tạm giam để bỏ trốn thì R, T đồng ý cùng thực hiện. Ngày 15/8/2016, P, T, R luân phiên nhau sử dụng 02 thanh kim loại và 01 thanh gỗ đục tường bên trong nhà vệ sinh của buồng tạm giam. Đến ngày 16/8/2016, Trần Minh T4 cùng tham gia với vai trò cảnh giới để P, R, T trực tiếp đục tường. Nhằm tránh sự phát hiện của các cán bộ Nhà tạm giữ; các đối tượng sử dụng chăn, mền bịt kín các lam thông gió để giảm tiếng ồn khi đục tường; sử dụng vải, bao nylon màu đen che lỗ đục tường. Đến khoảng 19 giờ ngày 16/8/2016, các đối tượng đã đục được một lỗ trống có kích thước (20x40)cm thì P, R, T lần lượt chui qua lỗ trống trên thoát ra ngoài. Sau khi P. R, T4 đã trốn được ra khỏi Buồng tạm giam, đến lượt T chui ra được nửa người thì bị cán bộ quản giáo Nhà tạm giữ Công an thành phố M phát hiện bắt giữ lại.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “ Trốn khỏi nơi giam” được quy định Khoản 1 Điều 386 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo ảnh hưởng đến sự hoạt động đúng đắn của cơ quan tư pháp, gây tác hại trực tiếp đến uy tín trong việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của Nhà tạm giữ Công an thành phố M. Bị cáo biết rõ hành vi bỏ trốn của mình là nguy hiểm cho xã hội, gây trở ngại cho việc hoạt động bình thường của Nhà tạm giữ, nhưng bị cáo bất chấp và xem thường pháp luật, cố ý thực hiện tội phạm nhằm trốn tránh việc chấp hành án.

Về nhân thân bị cáo có tiền án về các tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng. Trong thời gian tạm giam bị cáo tiếp tục phạm tội “ Trốn khỏi nơi giam” nên lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm được quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó cần có mức án thật nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục, tuy nhiên xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Thành T là người trực tiếp thực hiện tội phạm, nên cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội.

Vật chứng của vụ án: Đã được giải quyết theo bản án số 62/2018/HSST ngày 26/6/2018 của Tòa án nhân dân thành phố M nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Đối với các phạm nhân cùng buồng giam số 01 Nhà tạm giữ công an thành phố M, tỉnh Tiền Giang gồm Phạm Đình Thanh Q, Huỳnh Đặng Hoàng K; Phạm Văn T5, Huỳnh Thanh T6 không biết sự trốn khỏi nơi giam của bị cáo. Cơ quan điều tra Công an thành phố M không khởi tố về tội “Không tố giác tội phạm” là cơ sở.

Bị cáo Nguyễn Thành T đang chấp hành án tại Trại giam Phước Hòa nên áp dụng Điều 56 Bộ Luật sự hình sự tổng hợp hình bị cáo phải chấp hành.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình söï vaø Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTV QH khóa 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng aùn phí, leä phí Toøa aùn, mỗi bị cáo phaûi chòu aùn phí hình söï sô thaåm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội : “Trốn khỏi nơi giam”.

1/ Áp dụng Khoản 1 Điều 386 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Khoản 3 Điều 7; Điều 17; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 56; Điều 38; Điều 50 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Áp dụng Điểm b Khoản 1, Điểm h Khoản 2 Điều 2 Nghị Quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội14.

2/ Xử: Phạt Bị cáo Nguyễn Thành T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội : “Trốn khỏi nơi giam”. Tổng hợp hình phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” của Bản án số 49/2017/HS-ST ngày 03/8/2017. Buộc bị cáo Nguyễn Thành T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án (được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam 14/7/2016 đến ngày 09/3/2017).

3/ Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoán 14 về mức thu, nộp, giảm và quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thành T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4/ Bị cáo Nguyễn Thành T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Nguyễn Thanh P, Trần Minh T4, anh Nguyễn Văn R có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Để yêu cầu xé xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ