- Tranh chấp gì? "bị cáo H vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi…"
- Tòa quyết gì? 1/ Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn H. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 35/2019/HSST ngaøy 28/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân về mức hình phạt tù.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOØA AÙN NHAÂN DAÂN TÆNH VÓNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Baûn aùn soá: 36/2020/HSPT Ngaøy: 12-5-2020 |
NHAÂN DANH
NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM
TOØA AÙN NHAÂN DAÂN TÆNH VÓNH LONG
- Thaønh phaàn Hội đồng xeùt xöû phuùc thaåm goàm coù:
Thaåm phaùn – chuû toïa phieân toøa: OÂng Lâm Văn Năm
Caùc Thaåm phaùn:
1/ Ông Nguyễn Hữu Tuấn
2/ Ông Vương Minh Tâm
- Thö kyù phieân toøa: Bà Tô Thị Út – Thư ký của Toøa aùn nhaân daân tænh Vónh Long.
- Ñaïi dieän Vieän kieåm saùt nhaân daân tænh Vónh Long tham gia phieân toøa: Ông Nguyễn Quốc Vĩnh - Kieåm saùt vieân.
Ngaøy 12 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Toøa aùn nhaân daân tænh Vónh Long xeùt xöû phuùc thaåm công khai vuï aùn hình söï thuï lyù số 42/2020/HSPT ngaøy 10/02/2020 ñoái vôùi bò caùo Phan Văn H. Do coù khaùng caùo cuûa bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại ñoái vôùi baûn aùn hình söï sô thaåm soá: 35/2019/HSST ngaøy 28/11/2019 cuûa Toøa aùn nhaân daân huyện Bình Tân.
Bị cáo có kháng cáo:
Phan Văn H, sinh năm 1969 tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: tổ 1, ấp TH, xã TL, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn L (chết) và bà Huỳnh Thị L; vợ: Trương Thị C; con: có 03 người lớn nhất 31 tuổi, nhỏ nhất 16 tuổi; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Phạm Anh T – Luật sư của Văn phòng luật sư AT, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Vĩnh Long. Có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị hại có kháng cáo: Ông Lê Văn B, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị Yến Tg, sinh năm 1962. Cùng nơi cư trú: tổ 2, ấp HB, xã TH, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.
Ông B, bà T ủy quyền cho anh Đào Thanh N, sinh năm 1998. Nơi cư trú: ấp TL, xã TT, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long. Theo văn bản ủy quyền ngày 01/4/2020. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 14/7/2019, Phan Văn H điều khiển xe ô tô tải biển số 64R- 0648 có chở theo anh Võ Văn Bé C để giao trụ đá cho khách hàng ở xã TL. Khi H điều khiển xe đến khu vực thuộc tổ 03, ấp TH, xã TL, huyện Bình Tân thì lấn sang lề trái 0,35m (tính từ tim giữa lộ) và đụng vào xe mô tô biển số 64K1-156.54 do anh Lê Tuấn A điều khiển hướng ngược lại (từ hướng quốc lộ 54 về hướng tỉnh lộ 908). Hậu quả làm anh A bị thương nặng, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ. Sau đó được chuyển đến bệnh viện Chợ Rẫy thành phố Hồ Chí Minh điều trị, đến ngày 15/7/2019 thì tử vong.
Căn cứ Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 14/7/2019 xác định: vụ tai nạn xảy ra trên đoạn đường thẳng gần đến đoạn đường cong nhưng không có biển báo hiệu đường bộ, mặt đường rãi nhựa đá khô, chiều rộng mặt lộ nơi xảy ra tai nạn là 3,5 mét, hiện trường lấy lề bên phải (hướng từ tỉnh lộ 908 về hướng quốc lộ 54) làm lề chuẩn, xe ô tô tải 64R- 0648 va chạm vào xe mô tô 64K1- 156.54 của anh Lê Tuấn A nằm ở phần đường bên trái lề chuẩn và cách lề chuẩn là 2,1 mét. Nên xác định xe ô tô tải lấn sang lề trái là 0,35m (tính từ tim giữa lộ) đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ.
Đối với nạn nhân Lê Tuấn A có uống rượu bia khi điều khiển xe mô tô biển số 64K1 - 156.54 mà nồng độ cồn trong máu được xác định là 163.7 miligam/1 lít khí thở (vượt mức quy định 50 miligam/100 mililít máu) vi phạm vào khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ.
Kết luận giám định pháp y tử thi số 419/KLGĐ-PC09 ngày 16/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long thì nguyên nhân tử vong của Lê Tuấn A là do chấn thương sọ não.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm Phan Văn H đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường tiền để khắc phục hậu quả cho gia đình nạn nhân. Được đại diện hợp pháp của gia đình nạn nhân làm đơn xin bãi nại cho Hòa.
Quá trình điều tra còn thu giữ vật chứng của vụ án.
* Về trách nhiệm dân sự:
Bà Nguyễn Thị Yến T (là mẹ ruột của bị hại ) là đại diện hợp pháp của gia đình bị hại Lê Tuấn A, yêu cầu Phan Văn H bồi thường: tiền thuê xe cấp cứu, tiền chữa trị bệnh, chi phí mai táng phí, tiền hòm gương, vật tư xây dựng, chi phí sữa xe là 52.835.236 đồng và tiền tổn thất tinh thần là 57.164. 764 đồng với tổng số tiền là 110.000.000 đồng và không có yêu cầu gì thêm. Bị cáo H chấp nhận yêu cầu của bà T và đã bồi thường xong.
Tại bản án sơ thẩm số: 35/2019/HSST ngaøy 28/11/2019 cuûa Toøa aùn nhaân daân huyện Bình Tân đã xử phạt bị cáo Phan Văn H: 06 tháng tù về tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm bồi thường của Công ty Bảo hiểm, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 13/12/2019, bị cáo Phan Văn H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Ngày 11/12/2019 ông Lê Văn B và bà Nguyễn Thị Yến T kháng cáo yêu cầu xem xét lại mức án đối với bị cáo H và yêu cầu bị cáo H bồi thường tiền tổn thất tinh thần 50.000.000đ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo để có điều kiện lo cho mẹ già và làm trả nợ.
Ông Đào Thanh N đại diện theo ủy quyền của bà Yến T và ông B rút kháng cáo yêu cầu tăng nặng hình phạt đối với bị cáo H và thay đổi nội dung yêu cầu bồi thường tiền tổn thất tinh thần cho đại diện bị hại, số tiền yêu cầu bồi thường là 15.000.000đ. Bị cáo H đồng ý bồi thường theo yêu cầu của đại diện gia đình bị hại là 15.000.000 đồng.
Kiểm sát viên nêu quan điểm giải quyết vụ án: phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, nguyên nhân, hậu quả mà bị cáo đã gây ra. Đề nghị hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên án sơ thẩm. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 06 tháng tù.
Đối với kháng cáo của đại diện bị hại về bồi thường thiệt hại: Đề nghị công nhận sự tự thỏa thuận giữa người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của người bị hại và bị cáo với nội dung là: Bị cáo Phan Văn H có nghĩa vụ bồi thường thêm tiền tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại 15.000.000 đồng.
Luật sư nêu quan điểm bào chữa cho bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử bị cáo mức án 03 tháng tù.
Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Sau khi xét xử sơ thẩm, trong hạn luật định bị cáo Phan Văn H và người đại diện hợp pháp của người bị hại kháng cáo nên được đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phan Văn H thừa nhận ngày 14/7/2019 bị cáo điều khiển xe ô tô tải biển số 64R- 0648 đi giao trụ đá cho khách hàng thì gây tai nạn làm cho Lê Tuấn A tử vong lỗi chính thuộc về bị cáo. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo ở cơ quan điều tra, sơ đồ hiện trường, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu thể hiện trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thống nhất với án sơ thẩm xử bị cáo về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là đúng với hành vi mà bị cáo đã gây ra. Sau khi xử sơ thẩm bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trái pháp luật đến tình mạng của bị hại, gây đau thương, mất mác cho gia đình bị hại không gì bù đắp được. Hiện nay tình hình tai nạn giao thông đường bộ xảy ra có chiều hướng gia tăng, gây hoang mang lo lắng cho người tham gia giao thông. Do đó khi xét xử loại tội phạm này cần phải xử nghiêm nhằm răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Xét án sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ áp dụng cho bị cáo và xử bị cáo mức án 06 tháng tù là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Xét việc chấp nhận sự tự nguyện rút kháng cáo của đại diện hợp pháp của người bị hại yêu cầu tăng hình phạt tù đối với bị cáo và công nhận sự tự thỏa thuận giữa người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của người bị hại và bị cáo với nội dung là: Bị cáo Phan Văn H có nghĩa vụ bồi thường thêm tiền tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại là ông Lê Văn B và bà Nguyễn Thị Yến T số tiền là 15.000.000 đồng.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có cơ sở nên chấp nhận.
Xét lời bào chữa của Luật sư đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là chưa đủ cơ sở để chấp nhận như đã nhận định trên.
Do không chấp nhận kháng cáo nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm và án phí dân sự sơ thẩm tính 5% trên số tiền buộc bồi thường cho đại diện hợp pháp của người bị hại.
Đại diện hợp pháp của người bị hại không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
1/ Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn H. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 35/2019/HSST ngaøy 28/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân về mức hình phạt tù.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phan Văn H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
2/ Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Sửa án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự và các Điều 584, 585, 586, 591 Bộ luật Dân sự.
Công nhận sự tự thỏa thuận giữa người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của người bị hại và bị cáo với nội dung là: Bị cáo Phan Văn Hòa có nghĩa vụ bồi thường thêm tiền tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại là ông Lê Văn B và bà Nguyễn Thị Yến T số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành số tiền trên thì phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
3/ Án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Phan Văn H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm và 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Đại diện hợp pháp của người bị hại không phải chịu án phí.
4/ Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nôi nhaän: -TA+ VKSNDCC: 2; -VKSNDTC: 1; -VKSND TVL: 1; -TA+Chi cục THA HBT: 2; -SỞ TƯ PHÁP: 1, -PHÒNG HS CATVL: 1; -UBND xã TL: 1; -Bị cáo: 1; -Đại diện bị hại: 1; -TTG: 1; -Löu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Minh Tâm Nguyễn Hữu Tuấn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Văn Năm Lâm Văn Năm |