- Tranh chấp gì? "Lê Văn C phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên b bị cáo Lê Văn C phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật T tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B n án s : 36/2020/HS-PT Ngày: 28-4-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Thanh
Các Thẩm phán:
Ông Đặng Ngọc Bình
Ông Nguyễn Văn Bỉnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Lương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Khanh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý s 24/2020/TLPT-HS ngày 14/01/2020 đ i với bị cáo Lê Văn C, do có kháng cáo của bị cáo đ i với b n án hình sự sơ thẩm s 175/2019/HS-ST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân thành ph Đ, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị cáo kháng cáo:
Lê Văn C, sinh năm 1964 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: s 16A đường T, phường 7, thành ph Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa: lớp 6/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; qu c tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo; con ông Lê Văn M (đã chết) và bà Nguyễn Thị Ngọc B (đã chết); vợ Trần Thị T, sinh năm 1967 và có 04 con, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 2003; tiền án; tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/7/2019 đến ngày 01/8/2019, hiện đang tại ngoại. Có mặt.
Trong vụ án này còn có các bị cáo Lê Th T, Nguyễn Ngọc S, Lương Trọng Th, Đặng Văn T không kháng cáo, không bị kháng cáo, bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 09/7/2019 Lê Văn C gọi điện thoại rủ Đặng Văn T, Lương Trọng Th, Nguyễn Ngọc S đến nhà của C tại địa chỉ 16A T, phường 7, Đ để đánh Bầu - Cua - Tôm - Cá - Gà - Nai thắng thua bằng tiền và tất c đồng ý. Lê Văn C chuẩn bị 01 đĩa nhựa, 01 hộp sơn bịt kín một đầu, 03 hột x p có dán hình Bầu, Cua, Tôm, Cá, Gà, Nai; 01 khổ giấy kích thước 50x70cm có in hình Bầu, Cua, Tôm, Cá, Gà, Nai để làm công cụ phục vụ việc đánh bạc. Đến kho ng 13 giờ ngày 09/7/2019, Đặng Văn T, Lương Trọng Th, Nguyễn Ngọc S đến nhà Lê Văn C để chơi Bầu - Cua - Tôm - Cá - Gà - Nai cụ thể như sau: Lê Th T lấy 03 hột x p có in hình Bầu - Cua - Tôm - Cá - Gà - Nai cho vào đĩa nhựa rồi úp hộp sơn lên và tiến hành xóc, sau đó Lê Văn C đặt s tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) vào 02 ô bất kỳ trên khổ giấy có in hình Bầu - Cua - Tôm - Cá - Gà - Nai còn Đặng Văn T, Lương Trọng Th, Nguyễn Ngọc S đặt s tiền tương ứng 1.000.000đ vào 04 ô còn lại, khi đặt tiền cá cược xong Lê Th T mở hộp để đ i chiếu kết qu thắng thua. Nếu kết qu ở mặt trên cùng của các hột x p trùng với hình mà Lê Văn C đặt cược thì C thắng tiền của Th, S, Thuấn, ngược lại nếu kết qu hột x p trùng với các hình mà bị can Th, S, Thuấn đặt cược thì C thua s tiền đã đặt. Việc tính thắng thua tùy thuộc vào s lần xuất hiện của hình Bầu - Cua - Tôm - Cá - Gà - Nai. Nếu có 01 hình trùng với kết qu đặt cược thì thắng bằng s tiền đã cược, nếu có 02 hình trùng với kết qu đặt cược thì thắng gấp đôi s tiền đã cược, nếu có 03 hình trùng với kết qu đặt cược thì thắng gấp ba s tiền đã cược, căn cứ vào kết qu Lê Văn C sẽ trực tiếp chung chi tiền thắng thua với các bị can. Trường hợp nếu con bạc thắng tiền thì sẽ đưa cho C s tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng. Trong ngày 09/7/2019, các bị cáo đã đưa cho C tổng s tiền 400.000 đồng, s tiền này C cho con trai là Lê Anh V. Đến kho ng 15 giờ 45 phút cùng ngày khi các bị cáo đang đánh bạc thì bị Cơ quan C nh sát điều tra Công an thành ph Đ bắt qu tang. Thu giữ tại chiếu bạc gồm: S tiền 5.000.000đ; 01 (một) đĩa nhựa hình tròn đường kính 25cm; 01 (một) hộp nhựa hình tròn, đường kính 15cm, cao 15cm; 03 (ba) quân xí ngầu hình vuông mỗi mặt có in hình Bầu - Cua - Tôm - Cá - Gà - Nai; 01 (một) tờ giấy kích thước 50x70cm có in hình Bầu - Cua - Tôm - Cá - Gà - Nai.
Thu giữ trên người: Lê Văn C s tiền 3.100.000đ; 01 (một) điện thoại di động Nokia màu đen; Lê Th T 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu vàng; Đặng Văn T 01 (một) điện thoại Nokia màu đen; S tiền 9.000.000đ; 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển s 73D1 – 075.13, SM: 102804, SK: 102988; Nguyễn Ngọc S 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen; Lê Trọng Th 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XSMax màu vàng đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung S6 màu vàng đồng; 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu trắng đỏ đen, biển s 49B1 – 704.34, SM: G3D4E662403, SK: 061JY636073; S tiền 2.600.000đ. Lê Anh V s tiền 400.000đ.
Quá trình điều tra làm rõ vai trò của từng bị cáo và xác định s tiền các bị cáo sử dụng để tham gia đánh bạc cụ thể như sau:
- Lê Văn C là chủ nhà s 16A T, phường 7, thành ph Đ, là người chuẩn bị các công cụ để đánh bạc và rủ rê các bị cáo khác đến nhà đánh bạc thắng thua bằng tiền. Vào ngày 09/7/2019 Lê Văn C sử dụng s tiền 4.500.000đ để đánh bạc, trong đó xác định Lê Văn C là người làm cái thắng thua trực tiếp với các bị cáo khác nên xác định s tiền Lê Văn C sử dụng để đánh bạc là tiền thu giữ tại chiếu bạc, tiền thu giữ của Lê Anh V, tiền thu giữ của tất c các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 20.100.000đ.
- Lê Th T là con của Lê Văn C, vào ngày 09/7/2019 Lê Th T làm nhiệm vụ xóc cái để các bị cáo tham gia cá cược, vì vậy s tiền Lê Thanh T sử dụng đánh bạc là tiền bắt qu tang tại chiếu bạc, tiền thu giữ của các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 19.700.000đ.
- Đặng Văn T mang theo s tiền 9.000.000đ để đánh bạc, Th đánh nhiều ván và thắng được mấy trăm ngàn đồng. Đặng Văn T chơi từ đầu cho đến lúc bị bắt qu tang. Như vậy tổng s tiền Đặng Văn T sử dụng vào việc đánh bạc là s tiền thu giữ của Th, s tiền thu tại chiếu bạc và s tiền thu giữ của Lê Văn C với tổng s tiền là 17.100.000đ.
- Lương Trọng Th mang theo s tiền 2.600.000đ để đánh bạc, Th đánh nhiều ván và thắng được kho ng 400.000đ, Nguyễn Trọng Th chơi từ đầu cho đến lúc bị bắt qu tang. Như vậy tổng s tiền Nguyễn Trọng Th sử dụng vào việc đánh bạc là s tiền thu giữ của Th, s tiền thu tại chiếu bạc và s tiền thu giữ của Lê Văn C với tổng s tiền là 10.700.000đ.
- Nguyễn Ngọc S mang theo s tiền 2.500.000đ, khi tới nhà của Lê Văn C thì S lấy 1.800.000đ để tr nợ cho Nguyễn Thị Hồng P, còn lại 700.000đ S sử dụng để đánh bạc và bị thua hết. Vì vậy s tiền Nguyễn Ngọc S sử dụng để đánh bạc là s tiền thu giữ tại chiếu bạc, s tiền của S sử dụng đánh bạc và s tiền thu giữ của Lê Văn C với tổng s tiền là 8.800.000đ.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tr lại cho Nguyễn Ngọc S 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu đen; Lương Trọng Th 01 điện thoại di động hiệu Samsung S6 màu vàng đồng; Nguyễn Thị Hồng P 01 điện thoại Nokia màu đen, s tiền 900.000đ; Lê Anh T 01 điện thoại di động hiệu Itel màu xanh; Lê Anh V 01 điện thoại hiệu Nokia màu đen; Lê Văn K 01 điện thoại hiệu Iphone 5S màu vàng, 01 điện thoại hiệu Nokia màu xanh đen, s tiền 2.500.000đ là những đồ vật, tài s n không liên quan đến hành vi phạm tội.
Tại b n cáo trạng s 167/CT-VKS ngày 05/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành ph Đ truy t các bị cáo Lê Văn C, Lê Thanh T, Nguyễn Ngọc S, Lương Trọng Th, Đặng Văn T về tội “Đánh bạc” theo kho n 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
B n án s 175/2019/HSST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân thành ph Đ, tỉnh Lâm Đồng:
Tuyên b : Các bị cáo Lê Văn C, Lê Thanh T, Nguyễn Ngọc S, Lương Trọng Th, Đặng Văn T cùng phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng kho n 1, kho n 3 Điều 321; các điểm i, s kho n 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn C 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án. Được trừ thời gian tạm giữ từ 09/7/2019 đến ngày 01/8/2019 vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
Phạt bổ sung bị cáo Lê Văn C 20.000.000đ.
- Áp dụng kho n 1 Điều 321; điểm s kho n 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn T 30.000.000đ.
- Áp dụng kho n 1 Điều 321; các điểm i, s kho n 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Các bị cáo Lê Thanh T, Nguyễn Ngọc S, Lương Trọng Th mỗi bị cáo 20.000.000đ.
B n án còn xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 29/11/2019 bị cáo Lê Văn C kháng cáo xin gi m nhẹ hình phạt, được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không thắc mắc, khiếu nại b n án sơ thẩm, giữ nguyên nội dung kháng cáo và xin được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị áp dụng thêm kho n 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự điểm b kho n 1 Điều 355; điểm c kho n 1 Điều 357 của Bộ luật T tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, xử phạt bị cáo 06 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Vào ngày 09/7/2019 Lê Văn C gọi điện thoại rủ Đặng Văn T, Lương Trọng Th, Nguyễn Ngọc S đến nhà của C để đánh Bầu - Cua - Tôm - Cá - Gà - Nai thắng thua bằng tiền và tất c đồng ý. C chuẩn bị các công cụ phục vụ việc đánh bạc, đến kho ng 13 giờ cùng ngày, Th, Thuấn, S đến nhà C để chơi Bầu - Cua - Tôm - Cá - Gà - Nai cụ thể như sau: Lê Thanh T lấy 03 hột x p có in hình Bầu - Cua - Tôm - Cá - Gà - Nai cho vào đĩa nhựa rồi úp hộp sơn lên và tiến hành xóc, sau đó Lê Văn C đặt s tiền 1.000.000đ vào 02 ô bất kỳ trên khổ giấy có in hình Bầu - Cua - Tôm - Cá - Gà - Nai còn Đặng Văn T, Lương Trọng Th, Nguyễn Ngọc S đặt s tiền tương ứng 1.000.000đ vào 04 ô còn lại, khi đặt tiền cá cược xong Lê Thanh T mở hộp để đ i chiếu kết qu thắng thua. Trong ngày 09/7/2019, các bị cáo đã đưa cho C tổng s tiền 400.000 đồng, s tiền này C cho con trai là Lê Anh V. Đến kho ng 15 giờ 45 phút cùng ngày khi các bị cáo đang đánh bạc thì bị Cơ quan C nh sát điều tra Công an thành ph Đ bắt qu tang. Tổng s tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 19.700.000đ.
Đ i chiếu lời khai của các bị cáo, biên b n bắt người phạm tội qu tang, vật chứng thu giữ, cấp sơ thẩm tuyên b các bị cáo Lê Văn C, Lê Thanh T, Nguyễn Ngọc S, Lương Trọng Th, Đặng Văn T phạm tội “Đánh bạc” theo kho n 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Lê Văn C: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định và đúng quy định nên được xem xét.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, trật tự trị an tại địa phương. Trong vụ án này, bị cáo Lê Văn C đóng vai trò chính, là người rủ rê các bị cáo khác đến nhà mình cùng tham gia đánh bạc, trực tiếp chuẩn bị công cụ đánh bạc và là người làm cái. Cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo các tình tiết gi m nhẹ là phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo được quy định tại điểm i, s kho n 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án 09 tháng tù là phù hợp. Bị cáo kháng cáo nhưng không xuất trình tình tiết gi m nhẹ mới nên không có cơ sở để xem xét, do đó không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên b n án sơ.
Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ các điểm a kho n 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật T tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn C, giữ nguyên b n án b n án sơ thẩm.
Tuyên b bị cáo Lê Văn C phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng kho n 1 Điều 321; các điểm i, s kho n 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Văn C 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hính phạt tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ 09/7/2019 đến ngày 01/8/2019.
Bị cáo đã nộp tiền phạt bổ sung theo biên lai thu tiền s AA/2017/0001384 ngày 16/12/2019 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 135 của Bộ luật T tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Lê Văn C ph i chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của b n án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01); - Vụ GĐKT I – TANDTC (01); - Phòng KTNV&THA (02); - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01); - TAND Tp Đ (02); - VKSND Tp Đ (01); - Cơ quan CSĐT CA Tp Đ (02); - Cơ quan THAHS CA Tp Đ (02); - Bị cáo (01); - Hồ sơ THAHS (04); - Lưu hồ sơ; Án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Văn Thanh |