- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dƣơng Văn G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H TỈNH N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2020/HSST Ngày 19 tháng 6 năm 2020 - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà LÊ THỊ DUYÊN Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông TRẦN VĂN THẠCH 2/ Bà DƢƠNG THỊ TƢ Tòa án nhân dân thị xã H. HỒ CHÍ DŨNG - Kiểm sát viên. sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2020/HSST ngày 26 tháng 5 năm 2020 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 36/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo: Họ và tên: DƯƠNG VĂN G, sinh ngày 13/5/1989 tại tỉnh N. thị xã H, tỉnh N; nghề nghiệp: làm mƣớn; trình độ văn hóa: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Cao Đài; giới tính: Nam, con ông Dƣơng Văn L, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1954; vợ tên Nguyễn Trúc Hạ, sinh năm 2001, có 01 ngƣời con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không có. đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa. | Ngày 19 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh N, xét xử |
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Dƣơng Văn G là đối tƣợng nghiện ma túy. Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 24/3/2020 thông qua mạng xã hội Zalo, G mua một bịch ma túy của ngƣời tên Đen (không rõ nhân thân, địa chỉ) với giá 300.000 đồng tại khu vực trƣờng trung học cơ sở Trƣờng Hòa, thuộc xã Trƣờng Hòa, thị xã H để sử dụng. Sau đó G đem về nhà tại số 69/6B, ấp H, xã T, thị xã H lấy ma túy đổ vào ống thủy tinh để sử dụng nhƣng chƣa hết nên đem cất giấu trong phòng ngủ. Đến 15 giờ 50 phút ngày 25/3/2020, lực lƣợng Công an thị xã H tiến hành kiểm tra bắt quả tang, thu giữ 01 ống thủy tinh có đầu tròn, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, niêm phong ký hiệu M.
Tại Kết luận giám định số: 440/KL-KTHS ngày 27/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất tinh thể màu trắng bên trong một ống thủy tinh (ký hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamin, khối lƣợng 0,2704 gam.
Đối với ngƣời tên Đen do không xác định đƣợc lai lịch, địa chỉ nên chƣa làm việc đƣợc, khi nào làm rõ xử lý sau.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Bản cáo trạng số: 42/CT-VKSHT ngày 25 tháng 5 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh N đã truy tố bị cáo Dƣơng Văn G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh N trong phần tranh luận đã giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo Dƣơng Văn G về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Dƣơng Văn G mức án từ 01 năm đến 02 năm tù.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo vì không có khả năng thi hành.
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật: Tịch thu tiêu hủy chất ma túy, tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc điện thoại di động của bị cáo.
* Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:
Bị cáo Dƣơng Văn G là ngƣời nghiện ma túy, để có ma túy sử dụng nên bị cáo đã có hành vi mua ma túy, loại Methamphetamin với số tiền 300.000 đồng để sử dụng nhƣng chƣa sử dụng hết, còn lại 0,2704 gam thì bị bắt. Bị cáo là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi theo luật định, nhận thức đƣợc hành vi của mình là trái pháp luật nhƣng vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh N truy tố bị cáo G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất may túy” là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nƣớc. Bị cáo biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhƣng vì muốn có ma túy sử dụng nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc tƣơng xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Do đó, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, trừng trị, nhằm giáo dục ý thức pháp luật để sau khi chấp hành xong hình phạt tù bị cáo sẽ trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
Khi quyết định hình phạt có xem xét đến tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng: Không có.
- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ đƣợc quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Do bị cáo G không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung.
Xử lý vật chứng:
- 01 (một) gói có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N ghi vụ số: 440/KL-KTHS bên trong chứa chất ma túy loại Methamphetamine, trọng lƣợng sau giám định còn lại 0,1862 gam là vật nhà nƣớc cấm lƣu hành; 01 (một) bình nhựa màu trắng có nắp màu xanh, trên nắp có gắn một đoạn ống hút màu trắng và 01 cây kéo bằng kim loại, màu trắng đều đã qua sử dụng do không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, màu hồng, số Imeil: 351590103872854/01, đã qua sử dụng, bị cáo đã sử dụng điện thoại này để liên lạc mua ma túy, liên quan đến việc phạm tội, nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Dƣơng Văn G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Dƣơng Văn G 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù đƣợc tính từ ngày 25/3/2020.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số: 440/KL-KTHS, có chữ ký của Giám định viên và trợ lý giám định; 01 (một) bình nhựa màu trắng có nắp màu xanh, trên nắp có gắn một đoạn ống hút màu trắng và 01 cây kéo bằng kim loại, màu trắng đều đã qua sử dụng.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, màu hồng, số Imeil: 351590103872854/01, đã qua sử dụng.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Dƣơng Văn G phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Án hình sự sơ thẩm xử công khai, báo cho bị cáo biết đƣợc quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh N để xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh N; - Sở Tƣ pháp tỉnh N; - VKSND tỉnh N; - VKSND thị xã H; - Công an thị xã H; - Chi cục THA DS thị xã H; - Bị cáo; - Lƣu hồ sơ vụ án; - Lƣu trữ VP (D). | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |