- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn N - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4-NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 36 /2026/HSST Ngày 27/02/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4- NINH BÌNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Xuân Dự
Ông Mai Văn Chất
-Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Kim Hạnh, Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4-tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Trần Quang Toại, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4- Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2026/HSST ngày 30 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2026/QĐXXST-HS ngày 12/02/2026 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn N, sinh ngày 22/9/1987. Tại Ninh Bình. Số căn cước công dân số 0370870047xxcấp ngày 14/6/2022.Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Xóm A, xã L, tỉnh Ninh Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh.Tôn giáo: Công giáo. Trình độ văn hoá: 3/12;Nghề nghiệp: Lao động tự do. Bố đẻ: Nguyễn Bá N1 (Nguyễn Văn N2) đã chết. Mẹ đẻ: Trương Thị K đã chết. Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ tư.Vợ: Lê Thị H sinh năm 1988, hiện lao động tự do và trú tại ấp L, xã C, tỉnh Đồng Nai Con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2011.
Tiền án: Bản án số 05 ngày 23/01/2024, của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù và 200.000 đồng án phí về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 06/3/2024 chấp hành xong án phí, ngày 10/01/2025 chấp hành xong hình phạt tù
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 08/10/2025, chuyển tạm giam từ ngày 17/10/2025 cho đến nay tại Trại tạm giam số 01 - Công an tỉnh N. Có mặt.
Người làm chứng: Anh Trần Văn Q.
Anh Vũ Hồng Q1.
(đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do là người nghiện và có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 09 giờ sáng ngày 08/10/2025, Nguyễn Văn N đi bộ từ nhà đến khu vực đường đê (không xác định được địa chỉ) để tìm mua ma túy. Tại đây, N gặp, hỏi và mua được của 01 người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy với giá 400.000 đồng, sau đó N cầm trong lòng bàn tay trái rồi đi nhờ xe của người đi đường để tìm nơi sử dụng. Đến 10 giờ cùng ngày, khi đi đến đoạn đường trước nghĩa trang thuộc xóm G, xã Đ, tỉnh Ninh Bình Nguyện xuống xe, định mở gói ma túy ra để kiểm tra thì bị Tổ công tác của Công an xã Đ đang làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ: Thu giữ trên tay trái Nguyện 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy màu trắng KT 02 x 2,5cm. Tiến hành xét nghiệm nước tiểu tìm chất ma túy đối với Nguyễn Văn N. Kết quả: Dương tính với chất ma túy đồng thời lấy mẫu nước tiểu đi giám định.Tiến hành mở niêm phong gói nhỏ thu giữ của Nguyện bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng có khối lượng 0,1369 gam (ký hiệu M) để trưng cầu giám định.
Tại các kết luận giám định số 1424, 1425/KL-KTHS cùng ngày 15/10/2025 của phòng KTHS - Công an tỉnh N kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1369 gam, là ma túy, loại Heroine. Tìm thấy M và 6-Monoacetylmorphine trong mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Văn N gửi giám định. Morphine và 6-Monoacetylmorphine là sản phẩm chuyển hoá của Heroine
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Về vật chứng: 01 phong bì niêm phong ghi số 1424 bên trong có vật chứng còn lại sau giám định ký hiệu M là 0,1016 gam Heroine và toàn bộ vỏ giấy gói trong gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong có 01 mảnh giấy màu trắng và phong bì niêm phong gói nhỏ khi thu giữ của Nguyễn Văn N được chuyển đến kho vật chứng của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4, tỉnh Ninh Bình giải quyết cùng vụ án. Đối với 01 phong bì niêm phong theo quy định bên trong có 01 que test phát hiện nhanh ma túy trong mẫu nước tiểu thu của N ký hiệu A kèm theo hồ sơ vụ án Tại bản Cáo trạng số 50/CT- VKSKV4 ngày 27/01/2026 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025.
Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025 đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 03 năm 06 tháng đến 4 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 08/10/2025. Không áp dụng phạt tiền bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025 tịch thu tiêu hủy số ma túy được cơ quan giám định hoàn lại cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu; Về án phí HSST: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Văn N phải nộp án phí theo quy định của pháp luật là 200.000đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo cũng đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có tranh luận gì với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1]. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Ninh Bình, phù hợp với lời khai của người làm chứng; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ và niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận như sau:
Hồi 10 giờ ngày 08/10/2025, tại xóm G, xã Đ, tỉnh Ninh Bình, Nguyễn Văn N có hành vi cất giữ trái phép trong lòng bàn tay trái 0,1369 gam Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt giữ.
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý. 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm: ... c) Heroine, C, M1, A, Ketamine, F, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; … Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý thuộc quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025 như Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4-Ninh Bình đã truy tố là đúng người đúng tội, đúng pháp luật.
Về hình phạt: hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Bị cáo là người nghiện ma tuý, tàng trữ ma tuý nhằm mục đích sử dụng. Việc sử dụng ma túy là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn và hậu quả khôn lường cho xã hội mà Đảng và Nhà nước ta đang ra sức ngăn chặn.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có tiền án tại Bản án số 05 ngày 23/01/2024, của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý chưa được xoá án tích nay lại phạm tội thuộc tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về lịch sử bản thân: không có.
Do vậy cần xử phạt bị cáo hình phạt tù tương xứng cách ly bị cáo với xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cai nghiện, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội và cũng nhằm để giáo dục pháp luật và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma tuý để sử dụng, không nhằm mục đích vụ lợi, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Số ma tuý H được hoàn lại sau giám định thuộc vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ.
.Các vấn đề khác:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nguồn gốc số ma túy, Nguyễn Văn N khai nhận mua của một người đàn ông không quen biết ở khu vực đường đê không xác định được địa chỉ này do đó không có cơ sở để điều tra xác minh.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời gian luật định.
Vì các lẽ trên;-
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025; điểm c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
1.Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt Nguyễn Văn N 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 08/10/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy được cơ quan giám định hoàn lại cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu. (Vật chứng có số lượng, đặc điểm theo như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/01/2026 giữa Công an tỉnh N và Phòng Thi hành án dân sự khu vưc 4- Ninh Bình)
3.Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng). Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình - VKSND khu vưc 4- Ninh Bình - Công an tỉnh Ninh Bình. - Trại tạm giam - Phòng THADS khu vực 4- Ninh Bình - Thi hành án HS Công an tỉnh Ninh Bình - Bị cáo. - Lưu hồ sơ - Lưu VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Thị Bích Thủy |