- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Chánh S - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Chánh S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2026/HS-ST Ngày 20-3-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quang Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Trung và ông Lê Văn Vũ.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Tú Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Quảng Trị tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Hoà - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2026, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2026/TLST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 31/2026/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2026, đối với bị cáo:
Nguyễn Chánh S, sinh ngày 24/6/2001, tại tỉnh Quảng Trị; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn V, xã L, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Chánh D, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1976; Vợ, con chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/11/2025 sau đó chuyển tạm giam từ ngày 20/11/2025 cho đến nay tại Phân trại tạm giam Hướng Hoá thuộc Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Q. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Chánh D, sinh năm 1973; Nơi cư trú: thôn V, xã L, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên khoảng 20 giờ 00 phút ngày 10/11/2025 Nguyễn Chánh S tự ý lấy xe mô tô biển kiểm soát 74F8-4518 của ông Nguyễn Chánh D (bố của S) đi đến khu tái định cư thôn V, xã L, tỉnh Quảng Trị tìm mua ma tuý. Tại đây, S gặp và hỏi mua từ một thanh niên (không rõ lai lịch) 47 viên ma tuý với giá 500.000 đồng. Song lấy số ma tuý mua được bỏ vào trong bao thuốc lá SAIGON, sau đó cất giấu ở túi quần phía trước bên trái đang mặc, rồi điều khiển xe đi tìm vị trí sử dụng. Khi đi đến khu vực đường N (đoạn gần cổng chào thôn T, xã L) thì bị lực lượng Công an tỉnh Q phát hiện, bắt quả tang thu giữ niêm phong toàn bộ tang vật.
Kết luận giám định số 1650/KL-KTHS ngày 18/11/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu 47 viên nén màu hồng, hình trụ tròn (được niêm phong trong phong bì ký hiệu MTH) gửi đến giám định là ma tuý, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu là 4,80 gam.
Methamphetanine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT: 247 Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Vật chứng tạm giữ, gồm:
- 47 (bốn mươi bảy) viên nén màu hồng, hình trụ tròn.
- 01 (một) mảnh ni long trong suốt không xác định hình dạng kích thước.
- 01 (một) vỏ gói thuốc lá màu trắng, nhãn hiệu Saigon.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, màu sơn xanh, biển kiểm soát 74F8-4518, số máy HC09E-0583057, số khung RLHHC09093Y583624, đã qua sử dụng.
Bản cáo trạng số 49/CT-VKS-KV7 ngày 10 tháng 02 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Nguyễn Chánh S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chánh S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Chánh S từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy số ma túy sau giám định được hoàn lại trong 01 túi giấy niêm phong, ký hiệu MT1650 bên trong có 0,42gam chất bột màu hồng và 4,27gam các viên nén màu hồng là loại ma tuý Methamphetamine và bao gói sau giám định hoàn lại (Kèm theo kết luận giám định số 1650/KL-KTHS ngày 18/11/2025) và 01 túi niêm phong ký hiệu NS2.2007283-SGĐ, bên trong có 01 vỏ thuốc lá màu trắng, nhãn hiệu SAIGON, đã qua sử dụng, không xác định được kích thước ký hiệu1; 01 mảnh ni long trong suốt, không xác định được kích thước, hình dạng, ký hiệu A1, A2, bên ngoài dán kín miệng túi, trên túi niêm phong có đóng dấu Phòng K Công an tỉnh Q và có chữ ký xác nhận của giám định viên, điều tra viên (Kèm theo kết luận giám định số 1651/KL-KTHS ngày 25/11/2025).
Trả lại cho ông Nguyễn Chánh D 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave alpha, màu xanh, gắn biển kiểm soát: 74F8-4518, số máy HC09E-0583057; số khung RLHHC09093Y583624, đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong.
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Chánh S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Chánh S trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Chánh S không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 10/11/2025, Nguyễn Chánh S bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép 47 viên nén màu hồng, hình trụ tròn nhằm mục đích để sử dụng. Tại Kết luận giám định số 1650/KL-KTHS ngày 18/11/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu 47 viên nén màu hồng, hình trụ tròn (được niêm phong trong phong bì ký hiệu MTH) gửi đến giám định là ma tuý, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu là 4,80 gam. Hành vi của bị cáo Nguyễn Chánh S đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự.
Xét về tính chất, hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước mà còn gây mất trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Nguyễn Chánh S về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” với tình tiết định tội “...methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Chánh S không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình do đó cần áp dụng tình tiết “Người phạm tội đã thành khẩn khai báo” được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả pháp lý của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Nguyễn Chánh S được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra hết sức nguy hiểm cho xã hội, vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung, đáp ứng yêu cầu công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy đang diễn biến ngày càng phức tạp trên địa bàn.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Chánh S 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (20/3/2026) để đảm bảo thi hành án.
Về xử lý vật chứng
Số ma túy sau giám định được hoàn lại trong 01 túi giấy niêm phong, ký hiệu MT1650 bên trong có 0,42gam chất bột màu hồng và 4,27gam các viên nén màu hồng là loại ma tuý Methamphetamine và bao gói sau giám định hoàn lại (Kèm theo kết luận giám định số 1650/KL-KTHS ngày 18/11/2025) là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu huỷ.
Đối với 01 túi niêm phong ký hiệu NS2.2007283-SGĐ, bên trong có 01 vỏ thuốc lá màu trắng, nhãn hiệu SAIGON, đã qua sử dụng, không xác định được kích thước ký hiệu A1; 01 mảnh ni long trong suốt, không xác định được kích thước, hình dạng, ký hiệu A2, bên ngoài dán kín miệng túi, trên túi niêm phong có đóng dấu Phòng K Công an tỉnh Q và có chữ ký xác nhận của giám định viên, điều tra viên (Kèm theo kết luận giám định số 1651/KL-KTHS ngày 25/11/2025) là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu huỷ.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, màu sơn xanh, biển kiểm soát 74F8-4518, số máy HC09E-0583057, số khung RLHHC09093Y583624, đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong mang tên anh Trần Ngọc P, nơi cư trú: khu phố F, phường N, tỉnh Quảng Trị. Quá trình điều tra không lấy được lời khai của anh Trần Ngọc P. Ông Nguyễn Chánh D mua lại chiếc xe nhưng chưa làm thủ tục sang tên, do đó xác định ông Nguyễn Chánh D là người đang quản lý hợp pháp chiếc xe nói trên nên cần trả lại cho ông Nguyễn Chánh D là có căn cứ.
Về các vấn đề khác của vụ án
Đối với người thanh niên đã bán ma tuý cho Nguyễn Chánh S vào ngày 10/11/2025 quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý.
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Chánh S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Chánh S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Chánh S 04 (Bốn) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 11/11/2025.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ số ma túy sau giám định được hoàn lại trong 01 túi giấy niêm phong, ký hiệu MT1650 bên trong có 0,42gam chất bột màu hồng và 4,27gam các viên nén màu hồng là loại ma tuý Methamphetamine và bao gói sau giám định hoàn lại (Kèm theo kết luận giám định số 1650/KL-KTHS ngày 18/11/2025); 01 túi niêm phong ký hiệu NS2.2007283-SGĐ, bên trong có 01 vỏ thuốc lá màu trắng, nhãn hiệu SAIGON, đã qua sử dụng, không xác định được kích thước ký hiệu A1; 01 mảnh ni long trong suốt, không xác định được kích thước, hình dạng, ký hiệu A2, bên ngoài dán kín miệng túi, trên túi niêm phong có đóng dấu Phòng K Công an tỉnh Q và có chữ ký xác nhận của giám định viên, điều tra viên (Kèm theo kết luận giám định số 1651/KL-KTHS ngày 25/11/2025).
Trả lại cho ông Nguyễn Chánh D 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, màu sơn xanh, biển kiểm soát 74F8-4518, số máy HC09E-0583057, số khung RLHHC09093Y583624, đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong.
Vật chứng hiện đang được Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7, tỉnh Quảng Trị quản lý và có đặc điểm được mô tả theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02/3/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 7 - Quảng Trị.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Chánh S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (20/3/2026);
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND tỉnh Quảng Trị; - VKSND khu vực 7; - Cơ quan CSĐT Công an Tỉnh Quảng Trị; - THADS tỉnh Quảng Trị; - Cơ quan thi hành án hình sự; - Bị cáo; - Người CQLNVLQ; - Tổ HCTP; - Lưu hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quang Sơn |