- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Quốc C-Tàng trữ trái phép chất ma túy - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Lê Quốc C 39 (ba mươi chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 24/10/2025.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG NINH Bản án số: 36/2026/HS-ST Ngày: 09/3/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vương Thị Thanh
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Phương Thảo
Ông Nguyễn Văn Quýnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hồng Sơn, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Vương Hải Nam, kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2026/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2026/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2026 đối với bị cáo:
Lê Quốc C; tên gọi khác: không; sinh ngày 08/8/1995 tại tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: khu N, phường M, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; con ông: Lê Văn M và bà Hoàng Thị B; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt quả tang ngày 24/10/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.
- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Hồng T, sinh năm 1972, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 19 giờ 45 phút ngày 24/10/2025, tại khu N, phường M, tỉnh Quảng Ninh, Công an phường M phát hiện, bắt quả tang Lê Quốc C có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy trong người. Vật chứng thu giữ: thu trong túi quần phía trước bên phải C đang mặc 01 gói giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone màu đen.
Tại bản Kết luận giám định số 1628/KL-KTHS ngày 28/10/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: chất bột màu trắng thu giữ của Lê Quốc C gửi giám định là ma túy; loại: Heroine (H), có tên khoa học là D, khối lượng: 0,138 gam (không phẩy một ba tám gam).
Tại Cơ quan điều tra, Lê Quốc C khai nhận: do có nhu cầu sử dụng ma túy Heroine, khoảng 19 giờ ngày 24/10/2025, bị cáo gọi điện thoại cho Nguyễn Văn M1 hỏi mua 500.000 đồng ma túy. M1 đồng ý và hẹn bị cáo đến khu vực sau đình T thuộc khu N, phường M. Bị cáo đi bộ đến khu vực đình T thì gặp M1, M1 đã bán cho bị cáo 01 túi ma túy Heroine, bị cáo chưa có tiền nên bảo M1 cho nợ, M1 đồng ý. Bị cáo cất túi ma túy vào túi quần bên phải rồi đi bộ về nhà, trên đường về thì bị Công an kiểm tra, phát hiện thu giữ gói ma túy của bị cáo.
Tại phiên tòa, Lê Quốc C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không có gì oan sai. Người chứng kiến Nguyễn Hồng T vắng mặt tại phiên tòa có lời khai tại Cơ quan điều tra cho biết: khoảng 19 giờ 45 phút ngày 24/10/2025 anh được Công an phường M mời chứng kiến việc lập biên bản bắt quả tang đối với Lê Quốc C, lực lượng Công an đã thu giữ của C 01 gói giấy bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, C khai là ma túy đá mua về sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone màu đen.
Tại cáo trạng số 70/CT-VKSKV6 ngày 04/02/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh đã truy tố Lê Quốc C về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, đề nghị xử phạt: Lê Quốc C từ 36 đến 39 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/10/2025.
Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định đựng trong 01 phong bì niêm phong số 1628/KL-KTHS ngày 28/10/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q là chất nhà nước cấm lưu hành; tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone màu đen bị cáo sử dụng vào việc liên lạc mua ma túy; 01 thẻ sim gắn trong điện thoại di động nhãn hiệu iphone không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy. Tại phiên tòa, bị cáo không có quan điểm tranh luận gì với lời luận tội của Viện kiểm sát; nói lời sau cùng, bị cáo bày tỏ thái độ ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh truy tố đối với bị cáo: lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa cơ bản rõ ràng, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người chứng kiến, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: hồi 19 giờ 45 phút ngày 24/10/2025, tại khu N, phường M, tỉnh Quảng Ninh, Lê Quốc C có hành vi tàng trữ trái phép 0,138 gam (không phẩy một ba tám gam) ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng, thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025). Hội đồng xét xử thấy, Cáo trạng số 70/CT-VKSKV6 ngày 04/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh truy tố đối với Lê Quốc C là đúng người, đúng tội, lời luận tội có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy, chất gây nghiện của Nhà nước, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội cũng như các loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, do đó cần phải xử lý nghiêm.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về hình phạt đối với bị cáo: trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy, bị cáo thực hiện tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật kém. Do đó, cần thiết cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[7] Về vật chứng vụ án: quá trình điều tra thu giữ:
- 0,138 gam ma túy loại Heroine, sau giám định hoàn lại 0,09 gam, là chất nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone màu đen, bị cáo sử dụng liên lạc với M1 để mua ma túy, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 thẻ sim gắn trong điện thoai di động màu đen tịch thu của bị cáo, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy. [8] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét thấy, bị cáo đang bị tạm giam, không có việc làm và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[9] Đối với Nguyễn Văn M1 là người mà C khai bán ma túy cho C nhưng quá trình điều tra, xác định M1 vắng mặt tại địa phương nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q ra Quyết định tách vụ án để tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ xử lý sau.
[10] Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
[11] Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2025).
Xử phạt: Lê Quốc C 39 (ba mươi chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 24/10/2025.
Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 0,09 gam ma túy loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 1628/KL-KTHS ngày 28/10/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q; 01 (một) thẻ sim số 0365.754375 gắn trong điện thoại di động nhãn hiệu iphone màu đen.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iphone màu đen.
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng tài sản số 85/BB-THADSKV6 ngày 09 tháng 3 năm 2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Quảng Ninh).
Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về chế độ thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Toà án: bị cáo Lê Quốc C phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: căn cứ khoản 1 Điều 331, khoản 1, khoản 3 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND khu vực 6 - Quảng Ninh; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Ninh; - Phòng HSNV Công an tỉnh Quảng Ninh (PV06); - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh (PC10); - Phòng THADS khu vực 6- Quảng Ninh; - Bị cáo; - Lưu án văn + Hồ sơ vụ án. HỘI THẨM NHÂN DÂN Đỗ Thị Hân – Nguyễn Văn Giang | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Thị Thanh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Thị Thanh |