- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Phóng Đ phạm tội Tàng trữn trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự - Tịch thu tiêu hủy; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – BẮC NINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2026/HS-ST Ngày 28/01/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Linh Chi.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Quang Kim – Cán bộ hưu
Ông Hoàng Văn Tấn – Cán bộ hưu
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triệu - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 2 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ong Văn Chúc - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 204/2025/HSST ngày 22 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Bắc Ninh theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2026/QĐXXST-HS ngày 13/01/2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hà Phóng Đ, sinh năm 2002 tại Lạng Sơn; tên gọi khác: không; căn cước công dân số 020202007440; nơi cư trú: thôn C, xã Q, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Nùng; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hà Văn P và bà Nông Thị B; có vợ là Triệu Thị H và có 01 con, sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/09/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh B. Có mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Thân Văn N, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Nơi thường trú: Tổ dân phố Bẩy, phường Nếnh, tỉnh Bắc Ninh
2. Ông Thân Văn B1, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Nơi thường trú: Tổ dân phố B, phường N, tỉnh Bắc Ninh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ 00 phút ngày 10/9/2025, tại khu vực hồ C thuộc Tổ dân phố B, phường N, tỉnh Bắc Ninh; Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Công an phường N, tỉnh Bắc Ninh phát hiện, bắt quả tang Hà Phóng Đ, sinh năm 2002, trú tại thôn C, xã Q, tỉnh Lạng Sơn đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật thu giữ khi bắt quả tang gồm: thu giữ trong túi áo cộc tay phía trước bên trái Đ đang mặc 01 túi nilon màu trắng có khóa rãnh đường kẻ chỉ màu đỏ bên trong đựng 12 đoạn ống hút màu tím được hàn kín hai đầu, bên trong mỗi đoạn ống nhựa đều chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma túy
- được niêm phong vào phong bì ký hiệu “QT Đại”; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus màu trắng số imei 356118095110888 có gắn sim số 0359.324.881 - được niêm phong trong phong bì có ký hiệu “ĐT Đại”.
Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đ tại phòng số 6 nhà trọ của bà Thân Thị P1, sinh năm 1973 thuộc Tổ dân phố C, phường N, tỉnh Bắc Ninh. Kết quả: thu giữ dưới đệm trên giường trong phòng trọ 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa viền màu đỏ bên trong đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy; 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa viện màu đỏ bên trong đựng 10 đoạn ống nhựa màu tím được hàn kín hai đầu, bên trong mỗi đoạn ống nhựa đều đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy - được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX Đại”. Ngoài ra còn thu giữ: 01 thẻ CCCD mang tên Hà Phóng Đ, 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 con dao lam, 01 kéo kim loại có chuôi màu đỏ, 02 ống hút màu tím, 02 ống hút màu xanh, 02 ống hút màu vàng.
Cơ quan điều tra kiểm tra việc sử dụng ma túy của Hà Phóng Đ. Kết quả: Đại dương tính với chất ma túy Heroine.
Tại bản kết luận giám định số 2408 ngày 15/09/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
“5.1. Trong 01 (một) phong bì ký hiệu "QT Đại" đã được niêm phong gửi giám định có: Chất cục bột màu trắng đựng trong 12 (mười hai) đoạn ông nhựa màu tím được hàn kín hai đầu, được đựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ là ma túy, có tổng khối lượng 1,128gam, loại Heroine (H).
5.2. Trong 01 (một) phong bì ký hiệu "KX Đại" đã được niêm phong gửi giám định có:
- Chất cục bột màu trắng đựng trong 10 (mười) đoạn ống nhựa màu tím được hàn kín hai đầu, được đựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có đi rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ là ma tuý, có tổng khối lượng 0,901 gam, loại meny Heroine (H).
- Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ là ma tuý, có khối lượng 0,678 gam, loại Heroine (H)”.
Trong giai đoạn điều tra, Hà Phóng Đ khai nhận: Bản thân Đ là người nghiện ma túy Heroine đến phường N sinh sống từ đầu năm 2025 và đang thuê trọ một mình tại phòng số 6 nhà trọ của bà Thân Thị P1, sinh năm 1973 thuộc tổ dân phố C, phường N, tỉnh Bắc Ninh. Do có nhu cầu mua ma túy về sử dụng, khoảng 13 giờ 30 phút ngày 10/9/2025, Đ bắt xe ôm đi từ hinh phòng trọ đến khu vực nghĩa trang T1 tổ dân phố N, phường N, Điện tỉnh B để tìm mua ma túy. Tại đây, Đ gặp 01 người đàn ông không rõ Được tên tuổi, địa chỉ cụ thể khoảng 30 tuổi, đội mũ bảo hiểm, đeo khẩu trang, dáng Thất người gầy, cao khoảng 1m70, da đen. Đ hỏi mua của người đàn ông 4.000.000 đồng tiền ma túy Heroine thì người này bảo Đại chờ và điều khiển xe mô tô đi đâu đó khoảng 2-3 phút sau thì quay lại. Lúc này, Đ đưa cho người đàn ông 3 4.000.000 đồng tiền mặt, người đàn ông cầm tiền và chỉ vào chỗ bụi cỏ cách chỗ Đ đang đứng khoảng 3-4m. Đ đi ra chỗ bụi cỏ và thấy 01 túi nilon màu đen, sau đó Đ cầm túi nilon và đi tìm bắt xe ôm về phòng trọ. Tại phòng trọ, Đ mở túi nilon ra thì thấy bên trong có 01 túi nilon màu trắng đựng ma túy Heroine. Sau đó, Đ dùng dao lam, kéo, bật lửa chia nhỏ số ma túy cho vào 22 đoạn ống hút bằng nhựa màu tím rồi hàn kín 2 đầu mỗi đoạn ống hút, mục đích để sử dụng dần, còn khoảng 1 phân ma túy heroine Đ vẫn để trong túi nilong chưa chia nhỏ. Đ lấy một nhỏ ma túy sau khi chia ra để sử dụng. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Đ mang theo 12 đoạn ống nhựa màu tím chứa ma túy và đi bộ từ phòng trọ ra hồ câu ở tổ dân phố B, phường N, tỉnh Bắc Ninh để câu cá. Số ma tuy còn lại Đ cất giấu dưới đệm trên giường trong phòng trọ. Khi ra đến hồ câu thì Đ bị lực lượng công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ ma túy.
Tại cơ quan điều tra, Hà Phóng Đ đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 93/CT-VKS ngày 22/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh, truy tố bị cáo Hà Phóng Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025.
Tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố.
Qua tranh tụng tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát phát biểu lời luận tội vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo Hà Phóng Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025 và đề nghị:
- Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025, xử phạt bị cáo Hà Phóng Đ T 04 năm đến 04 năm 02 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 10/09/2025.
- Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì ký hiệu “QT Đại”, bên trong chứa mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong dán kín, ký hiệu “KX Đại”, bên trong chứa mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định; 01 bật lửa gas màu đỏ, 01 dao lam, 01 kéo kim loại có chuôi màu đỏ, 02 ống hút màu tím, 02 ống hút màu xanh, 02 ống hút màu vàng.
+ Trả lại bị cáo Hà Phóng Đ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus màu trắng số imei 356118095110888 nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án; 01 căn cước công dân mang tên Hà Phóng Đ.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016, bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định
Bị cáo không có tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là sai, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người làm chứng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản của Tòa án về thời gian mở phiên tòa nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy quá trình điều tra, họ đã có lời khai đầy đủ và được lưu trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt họ không trở ngại cho việc xét xử. Do đó, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố xét xử: Kể từ khi khởi tố vụ án hình sự, trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án, HĐXX thấy Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, không có vi phạm gì. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy đã có đủ cơ sở để kết luận:
Hồi 17 giờ 00 phút ngày 10/09/2025, tại khu vực hồ C thuộc tổ dân phố B, phường N, tỉnh Bắc Ninh; Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phát hiện, bắt quả tang Hà Phóng Đ sinh năm 2002, trú tại thôn C, xã Q, tỉnh Lạng Sơn đang có hành vi tàng trữ trái phép 1,120 gam ma túy Heroine mục đích sử dụng dần. Ngoài ra, Đ còn tàng trữ ở phòng trọ 1,579 gam ma túy Heroine. Tổng số ma túy Đ tàng trữ là 2,699 gam ma túy Heroine.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi cất giấu ma túy nhằm mục đích để sử dụng với lỗi cố ý. Do vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Cáo trạng số 93/CT-VKS ngày 22/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Bắc Ninh truy tố bị cáo Hà Phóng Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét về nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Bị cáo Hà Phóng Đ có nhân thân tốt
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông nội tham gia kháng chiến là liệt sĩ nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất cấm, là nguyên nhân dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú nên Hội đồng xét xử thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản có giá trị lớn nên Hội đồng xét xử xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.
Xét thấy cần phải tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án nên Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày xét xử sơ thẩm theo quy định tại Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thấy:
+ Đối với 01 phong bì ký hiệu “QT Đại”, bên trong chứa mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong dán kín, ký hiệu “KX Đại”, bên trong chứa mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
+ Đối với 01 bật lửa gas màu đỏ, 01 dao lam, 01 kéo kim loại có chuôi màu đỏ, 02 ống hút màu tím, 02 ống hút màu xanh, 02 ống hút màu vàng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định đây là các công cụ, phương tiện Đ sử dụng vào việc phạm tội, hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
+ Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus màu trắng số imei 356118095110888 và 01 căn cước công dân mang tên Hà Phóng Đ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định đây là tài sản hợp pháp của bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Đ nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.
Các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Đ: Đ khai không biết rõ tên tuổi địa chỉ, cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát camera tại khu vực Đại mua ma túy nhưng không thu thập được chứng cứ xác định người đàn ông bán ma túy cho Đ là ai nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hà Phóng Đ: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã xác minh tại nơi Đại cư trú xác định Đ không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 156a Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025 nên ngày 04/12/2025 Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hà Phóng Đ là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
Bị cáo Hà Phóng Đ không thuộc trường hợp được miễn tiền án phí nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt tại phiên tòa nên được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo Hà Phóng Đ 04 (bốn) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 10/09/2025.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Hà Phóng Đ 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 phong bì ký hiệu “QT Đại”, bên trong chứa mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định;
+ 01 phong bì niêm phong dán kín, ký hiệu “KX Đại”, bên trong chứa mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định;
+01 bật lửa gas màu đỏ; 01 dao lam; 01 kéo kim loại có chuôi màu đỏ; 02 ống hút màu tím; 02 ống hút màu xanh; 02 ống hút màu vàng
- Trả lại bị cáo Hà Phóng Đ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus màu trắng số imei 356118095110888; 01 căn cước công dân mang tên Hà Phóng Đ nhưng tạm giữ chiếc điện thoại di động lại để đảm bảo thi hành án.
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/12/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B với Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 – Bắc Ninh).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
Bị cáo Hà Phóng Đ phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh; - VKSND khu vực 2 - Bắc Ninh; - Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh; - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Bắc Ninh; - Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Bắc Ninh; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu HS,VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Linh Chi |