vanban.org

Bản án 36/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo 03 (ba) tháng tù.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành T - Vi phạm QĐTGGT đường bộ - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo 03 (ba) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 14 - ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2026/HS-ST
Ngày 11-5-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 – ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phan Thị Hồng Tuyết

Ông Võ Kỳ Tùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nguyên Khánh – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Vi Phương – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 14 – Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2026/HSST ngày 08 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2026/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2026 đối với bị cáo:

Nguyễn Thành T – sinh năm 1970; nơi cư trú: 131/33/25 đường B, phường N, tỉnh Khánh Hòa; Số CCCD: 056070009808; nghề nghiệp: nhân viên bảo vệ; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; không theo tôn giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S (chết) và bà Phan Thị N (chết); có vợ là Hàng Thị Hồng H, sinh năm 1972; có 03 con, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 2006.

Tiền án: Ngày 06/01/1994, bị TAND tối cao tại Đà Nẵng xử phạt tù chung thân về tội “Phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia” tại Bản án số 624/HSPT, được đặc xá tha tù năm 2005, chấp hành xong toàn bộ bản án nộp bồi thường dân sự ngày 06/5/2026. Nhân thân: Ngày 16/01/2017, bị TAND TP. Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” tại Bản án số 04/2017/HSST, đã chấp hành xong toàn bộ bản án.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Ông Nguyễn H1 (chết), người đại diện hợp pháp:

1/ Bà Huỳnh Thị P – sinh năm 1963;

2/ Ông Nguyễn Văn H2 – sinh năm 1987;

3/ Bà Nguyễn Thị H3 – sinh năm 1988;

4/ Ông Nguyễn Văn H4 – sinh năm 1993;

5/ Bà Nguyễn Thị H5 – sinh năm 1997.

Cùng địa chỉ: Thôn H, xã T, tỉnh Đắk Lắk. Ông H2, ông H4, bà H3, bà H5 ủy quyền cho bà P, đều vắng mặt; bà P có đơn xin vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH D: Đại diện theo pháp luật: Nguyễn Đức H6; địa chỉ: Số A C, phường N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

Người làm chứng:

1/ Đỗ Thành K – sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn S, xã V, Đắk Lắk.

2/ Nguyễn S1 - sinh năm 1972; địa chỉ: Chung cư S, đường L, phường N, tỉnh Khánh Hòa.

Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ 30 phút sáng ngày 16/6/2019, Nguyễn Thành T (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe khách biển kiểm soát 79B-019.62 lưu thông theo hướng Bắc – Nam trên Quốc lộ A. Khi đến đoạn đường tại Km1317+800 thuộc thôn P, xã T, tỉnh Đắk Lắk là khu vực gần ngã tư có gờ giảm tốc, vạch kẻ đường dành cho người đi bộ qua đường, có đèn tín hiệu màu vàng nhấp nháy cảnh báo nguy hiểm đang hoạt động. Lúc này trên đường có ông Nguyễn H1 đang điều khiển xe mô tô BKS 78T1-5665 lưu thông cùng chiều phía trước thì bất ngờ rẽ dần sang trái để qua đường, do không giữ khoảng cách an toàn, không giảm tốc độ nên T đã để đầu trước bên phải xe khách mình đang điều khiển va chạm vào bên trái đuôi xe mô tô của ông H1 điều khiển gây tai nạn giao thông. Hậu quả làm ông Nguyễn H1 chết khi đang cấp cứu.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 117/TT ngày 12/7/2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh P, kết luận ông Nguyễn Hoài C do chấn thương sọ não.

Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo T đã khắc phục hậu quả, tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng. Gia đình bị hại có đơn bãi nại không yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Về vật chứng đã được cơ quan điều tra xử lý trả lại theo quy định.

Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKSKV14 ngày 02/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – Đắk Lắk truy tố Nguyễn Thành T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt, xin được tự cải tạo tại địa phương để chăm sóc vợ đang bị bệnh ung thư và con đang học đại học.

Kiểm sát viên luận tội giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 6 tháng đến 9 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định. Tại phiên toà vắng mặt những người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng. Xét thấy, sự vắng mặt không ảnh hưởng, trở ngại cho việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về tội phạm: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với sơ đồ hiện trường, kết quả khám nghiệm hiện trường cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 02 giờ 30 phút ngày 16/6/2019, tại Km1317+800 Quốc lộ A thuộc thôn P, xã T, tỉnh Đắk Lắk là khu vực đường gần ngã tư có gờ giảm tốc, vạch kẻ đường dành cho người đi bộ qua đường, có đèn tín hiệu màu vàng nhấp nháy cảnh báo nguy hiểm đang hoạt động, bị cáo Nguyễn Thành T đã có hành vi điều khiển xe khách biển số 79B-019.62 lưu hành theo hướng Bắc – Nam nhưng không giữ khoảng cách đảm bảo an toàn đã gây tai nạn giao thông với xe mô tô của ông H1 điều khiển đang lưu thông cùng chiều và rẽ hướng sang trái làm ông H1 chết do chấn thương sọ não. Hành vi của Nguyễn Thành T đã vi phạm điểm c khoản 3 Điều 10 Luật giao thông đường bộ, là nguyên nhân trực tiếp gây tai nạn làm chết một người nên đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – Đắk Lắk truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp gây tai nạn giao thông xâm phạm đến tính mạng, tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trong lĩnh vực giao thông đường bộ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng do lỗi chủ quan không đảm bảo tốc độ và khoảng cách an toàn trong khi điểu khiển phương tiện giao thông gây tai nạn thể hiện thái độ coi thường pháp luật; bị cáo có nhận thân xấu, có một tiền án, từng hai lần chấp hành hình phạt tù nên cần áp dụng hình phạt tù cách ly ra khỏi xã hội một thời gian mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đảm bảo tác dụng giáo dục bị cáo, phòng ngừa chung.

Trong vụ án này bị hại là ông H1 cũng có một phần lỗi khi rẽ trái sang đường nhưng không có tín hiệu, thiếu quan sát để nhường đường cho xe lớn hơn nên cũng cần xem xét đánh giá khi lượng hình đối với bị cáo.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi xảy ra tại nạn, bị cáo đã chủ động đưa bị hại đi cấp cứu, chủ động khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại 100.000.000 đồng, được gia đình bị hại bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Tòa án áp dụng cho bị cáo; bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 nên đủ điều kiện áp dụng khoản 3 Điều 54 BLHS để xét xử quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt áp dụng để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo trở thành người có ích cho xã hội.

Đối với ý kiến xin tự cải tạo tại địa phương của bị cáo xét thấy, bị cáo có nhân thân xấu, từng 2 lần phạm tội; mặc dù bị cáo đã nộp tiền bồi thường dân sự theo Bản án số 624/HSPT của TAND tối cao tại Đà Nẵng nhưng vẫn còn trong thời hạn chưa được xóa án tích. Vì vậy, không đủ điều kiện cho cho bị cáo hưởng án treo hoặc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ bắt thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ