- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Mạnh H, Nguyễn Đức Quang V - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Mạnh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Đức Quang V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2026/HS-ST. Ngày: 09 - 02 - 2026. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Thanh Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Huệ và bà Lộc Thị Kim Thơm;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Nga - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hằng và bà Nguyễn Thúy Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 02 năm 2026, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1 - Tuyên Quang, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2026/TLST-HS, ngày 19 tháng 01 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2026/QĐXXST-HS, ngày 27/01/2026 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Vũ Mạnh H (tên gọi khác: Không), sinh ngày 27/7/1983 tại tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường M, tỉnh Tuyên Quang;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; con ông Vũ Ngọc T (đã chết) và con bà Lê Thị L; có vợ Vũ Thị Ngọc H1 (đã ly hôn) và có 01 con.
* Tiền án, tiền sự: Không.
* Nhân thân: Ngày 18/02/2022, Công an tỉnh T xử phạt 1.500.000 đồng về về hành vi: Sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 07/QĐ-XPHC.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/10/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh T (Có mặt tại phòng xét xử trực tuyến Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh T).
2. Họ và tên: Nguyễn Đức Quang V (tên gọi khác: Không), sinh ngày 04/8/1985 tại tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường M, tỉnh Tuyên Quang;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Xuân T1 (đã chết) và bà Hoàng Thị H2; có vợ Vũ Thị Thu H3 (đã ly hôn) và có 01 con.
*Tiền án: Không.
* Tiền sự: Ngày 26/7/2023 bị Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 16 tháng, chấp hành xong 13/10/2024 theo Quyết định số 22/QĐ-TA.
* Nhân thân:
+ Ngày 16/02/2004 Công an thị xã T, tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng, phạt tiền 150.000 đồng.
+ Ngày 24/02/2014 Công an thành phố T, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 1440/QĐ-XPHC.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/10/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh T (Có mặt tại phòng xét xử trực tuyến Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh T).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 06/10/2025, Vũ Mạnh H, trú tại Tổ dân phố C, phường M, tỉnh Tuyên Quang (là người đang điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone, theo Quyết định số 74/QĐ-MMT, ngày 18/5/2023 của Trung tâm y tế thành phố T, nay là Trung tâm y tế khu vực Tuyên Quang) đang ở nhà thì Nguyễn Đức Quang V, trú tại Tổ dân phố B, phường M, tỉnh Tuyên Quang (là người đang trong diện quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú, theo tại Quyết định số 231/QĐ-UBND, ngày 15/10/2024 của Ủy ban nhân dân phường M, tỉnh Tuyên Quang) gọi điện cho H hỏi “Có gì không, em qua nhé?”, ý của V là muốn hỏi H có ma túy không để V đến mua, H nói “Qua đi, chờ anh tý”, ý hẹn V qua nhà H để mua bán ma túy. Sau đó, V đi bộ từ nhà đến gần nhà H thì thấy H đang đứng đợi ở ngã ba đường thuộc tổ dân phố D, phường M, tỉnh Tuyên Quang. V đưa cho H số tiền 500.000 đồng, H cầm tiền bảo V đứng đợi. Sau đó, H một mình đi bộ đến bến xe khách Tuyên Quang thuộc Tổ dân phố T, phường M, tỉnh Tuyên Quang để tìm mua ma túy về bán cho V. Tại đây, H đi bộ vào khu vực vắng người trong bến xe mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy được gói ngoài bằng nilon màu trắng với giá 500.000 đồng rồi đi đến khu vực đường C sông L thuộc Tổ dân phố C, phường M lấy một ít ma túy ra sử dụng bằng hình thức tiêm chích vào cơ thể. Số ma túy còn lại H gói như cũ và cầm về đưa cho V tại vị trí V đứng đợi trước đó. V cầm lấy túi ma túy do H đưa và cất vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi về nhà. Khi đi về đến khu vực Tổ dân phố B, phường M thì V bị tổ công tác Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 01 gói ma túy Heroine và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A35 màu đen.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở của Vũ Mạnh H nhưng không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến ma túy.
Tiến hành xét nghiệm nước tiểu tìm chất ma tuý đối với Nguyễn Đức Quang V và Vũ Mạnh H, kết quả cả hai đều (+) dương tính với chất ma túy.
Nguyễn Đức Quang V khai nhận: Tối ngày 04/10/2025 V mua được 01 gói ma túy Heroine với giá 300.000 đồng của một người đàn ông không biết tại khu vực bờ sông L thuộc Tổ dân phố T, phường M, tỉnh Tuyên Quang. V mang về nhà và sử dụng hết bằng hình thức tiêm chích vào cơ thể.
Kết luận giám định số: 1329/KL-KTHS, ngày 10/10/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Số chất bột màu trắng trong 01 gói thu giữ của Nguyễn Đức Q Việt gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine; khối lượng 0,116 gam (Không phẩy một trăm mười sáu gam).
Kết luận giám định số: 1330, 1333/KL-KTHS ngày 14/10/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Đức Quang V và Vũ Mạnh H gửi giám định tìm thấy chất ma túy Morphine. Morphine là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Heroine trong nước tiểu.
Tại Cáo trạng số 88/CT-VKSKV1 ngày 19 tháng 01 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Vũ Mạnh H về tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025); truy tố bị cáo Nguyễn Đức Quang V về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025);
Kết thúc phần tranh luận, Kiểm sát viên trình bày luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo như nội dung Cáo trạng đã nêu và đề nghị hội đồng xét xử:
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm a khoản 1 Điều 256a (sửa đổi, bổ sung năm 2025); điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Mạnh H phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý và tội Sử dụng trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Vũ Mạnh H từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù về tội Sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt của cả 2 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 06/10/2025.
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 1 Điều 256a (sửa đổi, bổ sung năm 2025); điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Quang V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và tội Sử dụng trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Quang V từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù về tội Sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt của cả 2 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 06/10/2025.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì còn nguyên vẹn được dán kín. Mặt trước bì ghi: “Tang vật vụ Nguyễn Đức Quang V giám định ngày 07/10/2025”. Mặt sau tại các mép dán có chữ ký của các thành phần tham gia cùng 05 hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T.
+ Tịch thu của bị cáo Nguyễn Đức Quang V 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S, điện thoại cũ đã qua sử dụng để bán sung ngân sách Nhà nước.
+ Tịch thu của bị cáo Vũ Mạnh H 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE, kiểu máy IPHONE 6 PLUS màu vàng, điện thoại cũ đã qua sử dụng để bán sung ngân sách Nhà nước.
+ Tịch thu tiêu hủy 02 chiếc sim điện thoại được gắn trong 02 chiếc điện thoại thu giữ của hai bị cáo Vũ Mạnh H và Nguyễn Đức Quang V.
+ Truy thu của bị cáo Vũ Mạnh H số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) do phạm tội mà có để sung ngân sách Nhà nước.
- Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo cho các bị cáo theo quy định của pháp luật. Các bị cáo không có ý kiến tham gia tranh luận với luận tội của Đại diện Viện kiểm sát. Khi được nói lời sau cùng, các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để các bị cáo cải tạo, có cơ hội sớm được trở về với gia đình và hòa nhập xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên toà, các bị cáo tiếp tục thừa nhận hành vi phạm tội của mình, hành vi phạm tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, Ngoài lời khai nhận tội, hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng minh bằng biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, biên bản thu thập thông tin dữ liệu điện tử, vật chứng thu giữ; kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; tại phiên toà không phát sinh tình tiết mới, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 12 giờ 15 phút, ngày 06/10/2025 tại Tổ dân phố C, phường M, tỉnh Tuyên Quang, Vũ Mạnh H trú tại Tổ dân phố C, phường M, tỉnh Tuyên Quang là người đang điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone tại Trung tâm Y tế K, đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, loại Heroine.
Khoảng 12 giờ 20 phút, ngày 06/10/2025 tại Tổ dân phố D, phường M, tỉnh Tuyên Quang, Vũ Mạnh H có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy khối lượng 0,116 gam, loại Heroine cho Nguyễn Đức Q Việt trú tại Tổ dân phố B, phường M, tỉnh Tuyên Quang với giá 500.000 đồng. Khoảng 20 giờ ngày 04/10/2025 tại Tổ dân phố B, phường M, tỉnh Tuyên Quang, Nguyễn Đức Quang V trú tại Tổ dân phố B, phường M, tỉnh Tuyên Quang là người đang trong diện quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, loại Heroine.
Hồi 12 giờ 20 phút ngày 06/10/2025 tại Tổ dân phố B, phường M, tỉnh Tuyên Quang, Nguyễn Đức Quang V có hành vi Tàng trữ trái phép 0,116 gam, loại Heroine (mua của Vũ Mạnh H) mục đích để sử dụng.
Hành vi nêu trên của Vũ Mạnh H đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và tội Sử dụng trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Hành vi của Nguyễn Đức Quang V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và tội Sử dụng trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Tuyên Quang truy tố các bị cáo Vũ Mạnh H và Nguyễn Đức Quang V theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Hậu quả, tác hại do tệ nạn ma túy gây ra không những ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế, sức khỏe của bản thân và gia đình các bị cáo mà còn ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội.
. Đánh giá tính chất, mức độ, vai trò phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Trong vụ án này, các bị cáo đều là những người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng cố ý phạm tội. Bị cáo Vũ Mạnh H năm 2022 bị Công an tỉnh T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, hiện đang được điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế M nhưng không lấy đó làm bài học để cải tạo bản thân thoát khỏi sự lệ thuộc vào chất ma túy mà còn tiếp tục đi mua ma túy về để sử dụng và bán trái phép chất ma túy cho người khác. Bị cáo Nguyễn Đức Quang V cũng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, hiện đang trong diện quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú nhưng vẫn tìm người bán ma túy để mua về sử dụng. Hành vi đó của các bị cáo thể hiện ý thức coi thường pháp luật, vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời để phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Do các bị cáo phạm nhiều tội, vì vậy cần tổng hợp hình phạt và buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt chung theo Điều 55 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho cả hai bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo đều là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với số ma túy đã thu giữ còn lại sau khi giám định đã được niêm phong trong phong bì dán kín thuộc danh mục Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 02 chiếc điện thoại di động đã thu giữ của các bị cáo Vũ Mạnh H và Nguyễn Đức Quang V, xét những điện thoại này các bị cáo đã sử dụng để trao đổi mua bán ma túy nên cần tịch thu để bán sung ngân sách Nhà nước.
- Đối với 02 chiếc sim điện thoại được gắn trong 02 chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo H và V cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền 500.000 đồng bị cáo H bán ma túy cho bị cáo V, quá trình điều tra không chứng minh được người đã bán ma tuý cho H nên xác định đây là số tiền do bị cáo H phạm tội mà có. Vì vậy, cần truy thu của H số tiền này để sung ngân sách Nhà nước.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Tuyên Quang, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Các vấn đề khác:
- Đối với người đàn ông bán ma túy cho Vũ Mạnh H và Nguyễn Đức Quang V, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh T đã tiến hành các biện pháp điều tra nhưng ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu nào khác xác định người bán ma túy cho bị cáo là ai, ở đâu nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Vũ Mạnh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Đức Quang V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt:
1.1 Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; điểm a khoản 1 Điều 256a (sửa đổi, bổ sung năm 2025); điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Vũ Mạnh H 03 (ba) năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy; 02 (hai) năm tù về tội: Sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt chung cho cả 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành là 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 06/10/2025.
1.2 Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 1 Điều 256a (sửa đổi, bổ sung năm 2025); điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức Quang V 03 (ba) năm tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy; 02 (hai) năm tù về tội: Sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt chung cho cả 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành là 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 06/10/2025.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì còn nguyên vẹn được dán kín. Mặt trước bì ghi: “Tang vật vụ Nguyễn Đức Quang V giám định ngày 07/10/2025”. Mặt sau tại các mép dán có chữ ký của các thành phần tham gia cùng 05 hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T.
- Tịch thu của bị cáo Nguyễn Đức Quang V: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S màu đen, số máy CPH1803, số IMEI1 865566042967533, số IMEI2 865566042967525, điện thoại cũ đã qua sử dụng để bán sung ngân sách Nhà nước.
- Tịch thu của bị cáo Vũ Mạnh H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE, kiểu máy IPHONE 6 PLUS màu vàng, số máy MN2X2VN/A, số sê-ri F2LXJ426HFM4, điện thoại cũ đã qua sử dụng để bán sung ngân sách Nhà nước.
- Tịch thu tiêu hủy 02 chiếc sim điện thoại được gắn trong 02 chiếc điện thoại đã thu giữ của bị cáo Vũ Mạnh H và Nguyễn Đức Quang V.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Tuyên Quang ngày 04/02/2026).
- Truy thu của bị cáo Vũ Mạnh H số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) do phạm tội mà có để sung ngân sách Nhà nước.
3. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ: Điều 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Các bị cáo: Vũ Mạnh H, Nguyễn Đức Quang V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/02/2026)./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND khu vực 1 - Tuyên Quang; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Tuyên Quang; - Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang; - Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh TQ; - Các bị cáo; - Thi hành án hình sự; - Lưu hồ sơ + Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hồ Thanh Sơn |