vanban.org

Bản án 36/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị H được ly hôn với anh Hà Thế A.

Về con chung: Chị Lò Thị H và anh Hà Thế A có 02 con chung: Cháu Hà Bảo N, sinh ngày 30/3/2016, cháu Hà Thiên P, sinh ngày 20/01/2018. Giao cháu Hà Bảo N, sinh ngày 30/3/2016, cháu Hà Thiên P, sinh ngày 20/01/2018 cho chị Lò Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn giữa chị Lò Thị H và anh Hà Thế A"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị H được ly hôn với anh Hà Thế A.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2026/HNGĐ-ST.
Ngày: 22- 01 - 2026.
V/v: Ly hôn, nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Lường Thị Hương;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Trung Trọng;

Ông Hà Ngọc Phương.

- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Trí Danh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2

- Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Lò Văn Thức - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 93/2025/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 24 tháng 12 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 36/2026/QĐST-HNGĐ, ngày 09 tháng 01 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số: 44/2026/QĐST-HNGĐ, ngày 15 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lò Thị H; sinh năm 1994; nơi cư trú: Tiểu khu A, xã TC, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

Bị đơn: Anh Hà Thế A; sinh năm: 1992; nơi cư trú: Tiểu khu A, xã TC, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 10/11/2025, Bản tự khai, Biên bản lấy lời khai, nguyên đơn chị Lò Thị H trình bày:

Về tình cảm: Chị Lò Thị H và anh Hà Thế A kết hôn với nhau từ ngày 20/11/2015 có đăng ký kết hôn tại Uỷ bản nhân dân thị trấn TC, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (nay là xã TC, tỉnh Sơn La). Kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian rất ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hoà hợp, bất đồng trong quan điểm sống. Chị Lò Thị H và anh Hà Thế A đã được hai bên gia đình hoà giải nhưng không thành, hiện nay đã sống ly thân được hơn 02 năm cho đến nay không ai còn quan tâm đến cuộc sống của ai. Chị Lò Thị H xác định tình cảm vợ chồng không còn yêu cầu được ly hôn với anh Hà Thế A.

Về con chung: Chị Lò Thị H và anh Hà Thế A có 02 con chung: Cháu Hà Bảo N, sinh ngày 30/3/2016, cháu Hà Thiên P, sinh ngày 20/01/2018.

Nay ly hôn chị Lò Thị H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai Hà Bảo N, cháu Hà Thiên P, cho đến khi các cháu trưởng thành.

Về cấp dưỡng: Chị Lò Thị H không yêu cầu anh Hà Thế A phải cấp dưỡng nuôi con chung

Về tài sản chung vợ chồng: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Cam đoan không có.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Hà Thế A, anh Hà Thế A không có mặt tại Tòa án để trình bày ý kiến, tham gia tố tụng giải quyết vụ án. Do vậy không có lời khai của anh Hà Thế A đối với yêu cầu khởi kiện của chị Lò Thị H.

Biên bản xác minh ngày 12/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La về tình trạng hôn nhân của chị Lò Thị H và anh Hà Thế A: Chị Lò Thị H và anh Hà Thế A có đăng ký kết hôn tại UBND Thị trấn TC, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (nay là xã TC, tỉnh Sơn La). Kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc. Vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chính quyền không rõ.

Ý kiến của cháu Hà Bảo N, sinh ngày 30/3/2016 và cháu Hà Thiên P, sinh ngày 20/01/2018 con chung của chị Lò Thị H, anh Hà Thế A: Nguyện vọng của các cháu đều được muốn ở cùng chị Lò Thị H (mẹ đẻ).

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ: Nguyên đơn chị Lò Thị H nhất trí không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì thêm, không yêu cầu Toà án triệu tập đương sự khác và người tham gia tố tụng khác.

Đơn xin xét xử vắng mặt ngày 24/12/2025 nguyên đơn chị Lò Thị H trình bày do bận công việc, nên không thể có mặt để tham dự phiên toà, chị Lò Thị H đề nghị xét xử vắng mặt. Ý kiến của chị Lò Thị H về việc giải quyết vụ án: Vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Về tình cảm: Yêu cầu được ly hôn với anh Hà Thế A; về con chung: Chị Lò Thị H và anh Hà Thế A có 02 con chung: Cháu Hà Bảo N, sinh ngày 30/3/2016, cháu Hà Thiên P, sinh ngày 20/01/2018. Chị Lò Thị H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu, cho đến khi các cháu trưởng thành. Không yêu cầu anh Hà Thế A phải cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết; nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký: Đúng quy định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn Chị Lò Thị H đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Hà Thế A đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Lò Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Hà Thế A đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt. Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự là có căn cứ.

Về việc giải quyết vụ án:

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4, điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24; khoản 7 Điều 26; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị H được ly hôn với anh Hà Thế A.

Về con chung: Giao cháu Hà Bảo N, sinh ngày 30/3/2016, cháu Hà Thiên P, sinh ngày 20/01/2018 cho chị Lò Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành.

Về cấp dưỡng: Anh Hà Thế A không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

Nguyên đơn chị Lò Thị H khởi kiện ly hôn với bị đơn anh Hà Thế A có địa chỉ tại xã TC, tỉnh Sơn La Toà án nhân dân khu vực 2 - Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Lò Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Hà Thế A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, anh Hà Thế A vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Lò Thị H, bị đơn anh Hà Thế A.

. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Lò Thị H và anh Hà Thế A kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã TC, tỉnh Sơn La (trước là thị trấn TC, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La) vào ngày 20/11/2015, đúng theo quy định của pháp luật, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống anh, chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã lẫn nhau, đã được hai bên gia đình hoà giải nhiều lần nhưng không thành. Hiện nay chị Lò Thị H và anh Hà Thế A đã sống ly thân được 02 (hai) năm cho đến nay không ai còn quan tâm đến cuộc sống của ai. Anh Hà Thế A đã được Toà án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần để lấy lời khai và hoà giải, anh Hà Thế A không có mặt, do vậy Toà án không có lời khai và không tiến hành hoà giải được, điều này chính tỏ anh Hà Thế A không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay xét thấy cuộc sống vợ chồng giữa chị Lò Thị H và anh Hà Thế A lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xử cho chị Lò Thị H được ly hôn với anh Hà Thế A. Căn cứ vào Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

. Về con chung:

Chị Lò Thị H và anh Hà Thế A có 02 con chung: Cháu Hà Bảo N, sinh ngày 30/3/2016, cháu Hà Thiên P, sinh ngày 20/01/2018. Chị Lò Thị H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hà Bảo N, cháu Hà Thiên P cho đến khi các cháu trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

HĐXX xét thấy: Các cháu Hà Bảo N, cháu Hà Thiên P đều đang sống cùng chị Lò Thị H cuộc sống của cháu đã ổn định. Các cháu Hà Bảo N, cháu Hà Thiên P đều có nguyện vọng muốn sống cùng chị Lò Thị H (mẹ đẻ). Mặt khác trong quá trình giải quyết vụ việc anh Hà Thế A không có mặt tại Toà án để trình bày lời khai, trình bày ý kiến về việc nuôi con chung. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các con chưa thành niên, do vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị Lò Thị H, giao cháu Hà Bảo N, sinh ngày 30/3/2016, cháu Hà Thiên P, sinh ngày 20/01/2018 cho chị Lò Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành. Chị Lò Thị H không yêu cầu anh Hà Thế A phải cấp dưỡng nuôi con chung, cần được chấp nhận. Sau khi ly hôn anh Hà Thế A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

. Về nợ chung: Cam đoan không có.

. Về án phí: Chị Lò Thị H phải chịu toàn bộ án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định. Căn cứ khoản 4, điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 1 Điều 24; khoản 7 Điều 26; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4, điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ khoản 4, điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 1 Điều 24; khoản 7 Điều 26; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị H được ly hôn với anh Hà Thế A.

2. Về con chung: Chị Lò Thị H và anh Hà Thế A có 02 con chung: Cháu Hà Bảo N, sinh ngày 30/3/2016, cháu Hà Thiên P, sinh ngày 20/01/2018.

Giao cháu Hà Bảo N, sinh ngày 30/3/2016, cháu Hà Thiên P, sinh ngày 20/01/2018 cho chị Lò Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

3. Về cấp dưỡng: Anh Hà Thế A không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

4. Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

5. Về nợ chung: Không có.

6. Về án phí: Chị Lò Thị H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 - Sơn La theo biên lai thu số: 0000719 ngày 13/11/2025.

7. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Lò Thị H; bị đơn anh Hà Thế A được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết./.

Cỡ chữ