- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Lò Văn T, phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2025/HSST. Ngày: 16 - 01 - 2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lường Thị Hương;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Mai;
Bà Lê Bích Thuận.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Hiền - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Lường Văn Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2024/HSST, ngày 17 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Lò Văn T; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1990 tại huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản C, xã TL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; trình độ học vấn: 07/12; nghề nghiệp: Trồng trọt; giới tính: Nam; dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Lò Văn X, sinh năm: 1954 và bà Lò Thị N, sinh năm: 1954; bị cáo có vợ: Lò Thị M, sinh năm: 1994 (đã ly hôn) và 01 con, sinh năm 2011; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị cáo bị bắt ngày 08/10/2024. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 30 phút, ngày 08/10/2024, tại khu vực Bản C, xã TL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La tổ công tác Công an xã TL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La phát hiện và bắt quả tang: Lò Văn T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ vật chứng gồm:
01 gói nilon màu trắng, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng nghi là Heroine (Lò Văn T khai là Heroine), có khối lượng 0,31 gam, trích toàn bộ 0,31 gam, ký hiệu T1 làm mẫu vật gửi giám định chất ma tuý. Còn lại: 01 mành nilon màu trắng và 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đựng vào trong một phong bì, sau đó dán kín, mép dán phong bì đóng 02 hình dấu đỏ của phòng PC06 Công an tỉnh Sơn La để lưu hồ sơ vụ án.
Kết luận giám định số: 1945/KL-KTHS, ngày 14/10/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La: “Mẫu gửi giám định ký hiệu T1 là ma tuý, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphene, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,31 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,31 gam loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphene”. Mẫu vật gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Tại cơ quan điều tra bị cáo Lò Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 08/10/2024, Lò Văn T đi bộ một mình từ nhà sang khu vưc bản T1, xã TM, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La mục đích tìm mua ma tuý về sử dụng. Đến nơi, Lò Văn T gặp và hỏi mua được của một người phụ nữ dân tộc Thái (Lò Văn T không biết tên và địa chỉ cư trú) 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa chất Heroine với số tiền 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Lò Văn T cất gói ma tuý vào túi quần phía trước bên phải đang mặc và đi bộ về nhà. Khi Lò Văn T đi đến khu vực Bản C, xã TL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La thì gặp tổ công tác Công an xã TL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La yêu cầu kiểm tra ma tuý. Quá trình kiểm tra phát hiện bắt quả tang Lò Văn T về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Bản Cáo trạng số: 06/CT-VKS, ngày 16/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Lò Văn T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La trong phần tranh tụng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lò Văn T về điểm, điều, khoản và tội danh trên.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lò Văn T mức án từ 20 (hai mươi) tháng đến 26 (hai mươi sáu) tháng tù.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Lò Văn T.
Miễn toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn T.
Ý kiến của bị cáo Lò Văn T: Nhất trí như bản luận tội của Viện kiểm sát, xin giảm nhẹ hình phạt, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
. Tại phiên toà Lò Văn T thừa nhận: Ngày 08/10/2024, Lò Văn T bị phát hiện và bắt quả tang cất giữ trái phép trong người 0,31 gam chất ma tuý, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphene tại khu vực Bản C, xã TL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Mục đích cất giữ để sử dụng cho bản thân.
Lời khai nhận tội của bị cáo Lò Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định chất ma tuý và các tài liệu khác có trong hồ sơ.
Trên cơ sở đó có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lò Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Có mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo Lò Văn T mục đích để sử dụng cho bản thân là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng với lỗi cố ý. Do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm về toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, đảm bảo tính chất nghiêm minh của pháp luật.
Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần cân nhắc về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lò Văn T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, không có thu nhập. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
. Về nguồn gốc số ma túy, Lò Văn T khai mua của một người phụ nữ dân tộc Thái, tại khu vực bản T1, xã TM, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La với giá 500.000 đồng vào ngày 08/10/2024. Do Lò Văn T không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người bán ma tuý cho Lò Văn T ở đâu. Nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La không điều tra xử lý là có căn cứ.
. Về án phí: Bị cáo Lò Văn T là hộ nghèo, bị cáo xin được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm. Cần miễn toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Xử phạt bị cáo Lò Văn T 22 (hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/10/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về Án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Miễn nộp toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn T.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Lò Văn T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16 tháng 01 năm 2025)./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND ( 02 ); - Sở tư pháp tỉnh; - Cơ quan CSĐT CA huyện; - THA hình sự; - Chi cục THADS; - Trại giam; - Bị cáo; - Lưu Hồ sơ; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Thị Hương |