- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Hữu L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 36/2025/HSST Ngày: 29/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B Đ – TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Bà: Lâm Thị Chức
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Mạnh Quang và bà Thái Thị Huỳnh Trang
Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Thắng - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B Đ tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quang Hoàng – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B Đ, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2025/HSST ngày 14 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:29/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2024; Thông báo về việc dời lịch xét xử số: 06/2025/TB-TA, ngày 09/4/2025 và thông báo về việc dời lịch xét xử số: 08/2025/TB-TA, ngày 21/4/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hữu L; Sinh năm 1998 tại tỉnh Bình Phước;Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú: Tổ 8, Ấp T A, xã T T, huyện B Đ, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc; Kinh; Tôn giáo: Không; Học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Không;Cha: Nguyễn Văn T, sinh năm: 1969; Mẹ : Nguyễn Thị Thùy Tr, sinh năm: 1977; Anh chị em: Bị can có 01 người chị sinh năm: 1996
Tiền án, tiền sự: Không
Ngày 08/12/2024 bị can bị bắt quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/12/2024 tại Phân trại tạm giam khu vực Bù Đốp, Công an tỉnh Bình Phước cho đến nay – có mặt tại phiên tòa.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm: 1977; Địa chỉ: Ấp T A, xã T T, huyện B Đ, tỉnh Bình Phước – có mặt.
- Bùi Đình H, sinh năm: 1982; Thường trú: 69 Bis Ch V L, phường Tân A, quận N K, thành phố Cần Thơ;
Chỗ ở: 1508/15/2 L V L, xã Đ, huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh – có mặt.
+ Người làm chứng:
- Nguyễn Như Y, sinh năm: 1996; Địa chỉ: Ấp T A, xã T T, huyện B Đ, Bình Phước – có mặt.
- Lê Văn B, sinh năm: 1986; Địa chỉ: T H, T Th, Bù Đốp, Bình Phước - có đơn yêu cầu vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Do muốn sử dụng ma túy để sử dụng nên khoảng 09 giờ sáng ngày 30/11/2024 Nguyễn Hữu L đến khu vực sông M giáp biên giới Việt Nam – Campuchia thuộc địa phận xã T Th, huyện B Đ, tỉnh Bình Phước để tìm người hỏi mua ma túy. Tại đây L thấy bên bờ sông phía Campuchia có người đàn ông không rõ nhân thân nên L gọi hỏi có ma túy bán không thì người này nói có, L nói bán cho L 2.000.000đồng ma túy đá, rồi L lấy dây thun cuộn tròn 4 tờ tiền mệnh giá 500.000đồng ném qua bờ sông cho người đàn ông, người này ném 02 túi nylon có chứa ma túy và 03 ống Th tinh để sử dụng ma túy L. Sau khi mua ma túy L đem 01 phần ma túy ra sử dụng rồi đi về nhà. Khoảng 19 giờ ngày 07/12/2024 L đi đến nhà cô ruột là Nguyễn Thị Phĩ, sinh năm: 1970 ở ấp Tân Hội, xã T Th, huyện B Đ, tỉnh Bình Phước chơi và ngủ lại. Khoảng 09 giờ 20 phút sáng ngày 08/12/2024 L điều khiển xe mô tô hiệu SYM, loại ATTILA, biển số: 59C1- 238.51 đi từ nhà bà Th đến quán tạp hóa trong ấp mua nước ngọt để uống, trên đường đi do L không đội nón bảo hiểm nên bị lực lượng Công an xã T Th, huyện B Đ đang tuần tra kiểm soát giao thông tiến hành kiểm tra và phát hiện ở túi quần bên trái có 01 túi ny lon chứa tinh thể màu trắng L khai là ma túy mua về để sử dụng. Lực lượng công an xã T Th đã tạm giữ 01 túi nylon chứa tin thể màu trắng; 01 xe mô tô hiệu SYM, loại ATTILA màu đỏ đen, biển số: 59C1- 238.51; 02 ống Th tinh dùng để sử dụng ma túy ở trong cốp xe; 01 điện thoại OPPO A15 màu xanh, kiểu máy CPH2185 bên trong có sim số 0335520421.
Qua test ma túy Nguyễn Hữu L dương tính với ma túy. Công an xã T Th đã chuyển giao vụ việc Cho Cơ quan CSĐT Công an huyện B Đ để giải quyết theo thẩm quyền. Cơ quan điều tra Công an huyện B Đ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Hữu L, tạm giữ và niêm phong tang vật và ra Quyết định trưng cầu giám định giám định chất ma túy.
Tại bản Kết luận giám định số:1374/KL-KTHS ngày 12/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước kết luận:
Tinh thể màu trắng (ký hiệu M) có trong 01túi nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 2,9783 gam.
Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu hoàn lại được niêm phong có khối lượng 2,3762 gam.
Quá trình điều tra Nguyễn Hữu L khai nhận là người sử dụng ma túy, mua ma túy về để sử dụng.
Cáo trạng số: 27/CTr-VKS ngày 13 tháng 3 năm 2025, của Viện kiểm sát nhân dân huyện B Đ truy tố bị cáo Nguyễn Hữu L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện VKSND huyện B Đ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
+ Về tội danh và mức hình phạt: Tuyên bố Nguyễn Hữu L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
+ Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015. Đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo từ 02 (hai) đến 03 (ba) năm tù
Đề nghị xử lý vật chứng và các vấn đề khác như cáo trạng đã công bố.
Bị cáo không tham gia tranh luận và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện B Đ, tỉnh Bình phước, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện B Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị báo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về nội dung vụ án: Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 08/12/2024 tại Ấp Tân Hội, xã T Th, huyện B Đ, tỉnh Bình Phước, Nguyễn Hữu L đã có hành vi tàng trữ 2,9783 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt quả tang.
Hành vi cất giữ chất ma túy để nhằm mục đích sử dụng của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Cáo trạng số: 27/CTr-VKS ngày 13 tháng 3 năm 2025 của VKSND huyện B Đ và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo Nguyễn Hữu L là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét tính chất mức độ của hành vi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy cho bản thân bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, điều này thể hiện rõ thái độ xem thường pháp luật của bị cáo là rất cao. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng; Giảm nhẹ:
+ Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng
+ Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năm hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. HĐXX cần xem xét để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi quyết định hình phạt
Về xử lý vật chứng:
+ Đối với 2,3762 gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định 02 và ống Th tinh là vật chứng của vụ án để L sử dụng ma túy. Đề nghị tịch thu tiêu hủy là có căn cứ
+ Đối với xe mô tô hiệu SYM, loại ATTILA màu đỏ - đen, biển số: 59C1-238.51, quá trình điều tra xác định là xe của anh Bùi Đình H, sinh năm: 1982; Thường trú: 69 Bis Ch V L, phường T A, quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ; chỗ ở: 1508/15/2 L V L, xã Nh Đ, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh; vào tháng 4/2024 anh Huân cho bà Nguyễn Thị Thùy Tr là mẹ ruột của Nguyễn Hữu L mượn chiếc xe trên làm phương tiện đi lại ( anh H là bạn trai của Nguyễn Như Y chị ruột của L), khi cho mượn xe anh H không biết L sử dụng vào việc phạm tội. Đề nghị trả lại cho anh H là có căn cứ.
+ Đối với 01 điện thoại OPPO A15 màu xanh, kiểu máy CPH2185 bên trong có sim số 0335520421 là của Nguyễn Hữu L, L không sử dụng vào việc phạm tội. Đề nghị trả lại cho bị cao L là có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Hữu L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 50; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt Nguyễn Hữu L 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (08/12/2024).
[2] Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của BLHS, Điều 106 của BLTTHS tuyên:
Tịch thu tiêu hủy đối với 2,3762 gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định và 02 ống Thủy tinh là vật chứng của vụ án.
Tuyên trả lại anh Bùi Đình H 01 (một) xe mô tô hiệu SYM, loại ATTILA màu đỏ- đen, biển số: 59C1- 238.51.
Tuyên trả lại cho bị cáo Nguyễn Hữu L 01 điện thoại OPPO A15 màu xanh, kiểu máy CPH2185 bên trong có sim số 0335520421.
(Số vật chứng trên đã được giao nhận cho Chi cục thi hành án dân sự dân sự huyện B Đ theo các biên bản giao nhận vật chứng số 0007979 ngày 26/02/2025).
[3]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức, thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[4]. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước; - VKSND huyện B Đ; - Phân trại tạm giam khu vực B Đ, Công an tỉnh Bình Phước; - Chi cục THADS huyện B Đ; - UBND xã (thị trấn); - Bị cáo; - Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Lâm Thị Chức |