vanban.org

Bản án 36/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ Tuyên án 25/02/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Khoản 3 Điều 175, Điều 38, Điều 48, điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Khoản 3 Điều 175, Điều 38, Điều 48, điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN N,
THÀNH PHỐ C

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2025/HS-ST
Ngày: 25/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N, THÀNH PHỐ C

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị A

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Công N,

2. Bà Hồ Thị Kim L.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc D – Thư ký Tòa án nhân dân quận N, thành phố C.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận N, thành phố C tham gia phiên tòa: ông Bùi Hữu Đ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận N, thành phố C xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 04/2025/TLST-HS ngày 06/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2025/QĐXXST-HS ngày 10/02/2025 đối với bị cáo:

- Họ và tên: LÊ ĐOAN T;

- Giới tính: Nữ;

- Sinh ngày 21 tháng 4 năm 1996;

- Nơi sinh: C;

- Nơi cư trú: phường P, quận Ô, thành phố C;

- Nơi ở hiện tại: phường P, quận C, thành phố C;

- Quốc tịch: Việt Nam;

- Dân tộc: Kinh;

- Tôn giáo: không;

- Trình độ học vấn: 12/12;

- Nghề nghiệp: mua bán;

- Họ và tên cha: Trương Hoàng C, sinh năm: không rõ;

- Họ và tên mẹ: Lê Thị Thu C1, sinh năm 1971;

- Tiền án, tiền sự: chưa;

- Bị cáo bị tạm giam ngày 26/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận N, thành phố C.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Bà Huỳnh Dương Khiết M, sinh năm: 1977. Địa chỉ: phường D, thành phố M, tỉnh T (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ tháng 01/2021 Lê Đoan T bắt đầu làm nhân viên tại HKD Bakery Mậu T1 (Hiệu bánh K Mậu T1), phường X, quận N do bà Huỳnh Dương Khiết M đứng tên hộ kinh doanh. Đến tháng 01/2023 T được bà Minh ký quyết định bổ nhiệm làm cửa hàng trưởng Hiệu bánh K Mậu T1. T được giao nhiệm vụ là giữ tiền doanh thu hàng ngày, nộp tiền doanh thu, chịu mọi trách nhiệm thất thoát, hư hỏng hàng hoá tại cửa hàng, quản lý và thu hồi công nợ của khách hàng (nếu có). Hàng ngày sau khi kết thúc việc mua bán tại Hiệu bánh K Mậu T1 thì T sẽ tính toán tổng cộng các khoản thu chi trong ngày và giữ số tiền này. Định kỳ vào các ngày thứ 2, thứ 6 hàng tuần, T có trách nhiệm chuyển khoản tiền doanh số bán hàng về cho Hiệu bánh Kh qua tài khoản Ngân hàng V của ông Nguyễn Thanh Điền A.

Đầu năm 2024, T phải chuyển tiền doanh số bán hàng vào tài khoản ngân hàng A1 số TK 1953667788 của Hiệu bánh K do bà M là chủ cửa hàng quản lý. Sau khi chuyển tiền, thì T sẽ chụp ảnh lịch sử giao dịch chuyển khoản thành công trên ứng dụng Internetbanking và gửi ảnh cho kế toán Trần Thị Đông P để báo cáo lại cho bà M. Tuy nhiên, qua rà soát đối chiếu với kế toán, bà M phát hiện vào ngày 06/12/2023 T không có chuyển tiền doanh số bán hàng về tài khoản ngân hàng của Điền A số tiền 50.228.000 đồng, tương tự ngày 03/02/2024 số tiền 64.325.000 đồng và ngày 05/02/2024 số tiền 100.000.000 đồng T cũng không có chuyển tiền doanh số bán hàng về tài khoản ngân hàng của bà M mà làm giả các ảnh chụp giao dịch chuyển tiền thành công gửi cho kế toán P. Bằng thủ đoạn trên, T đã chiếm đoạt tiền của Hiệu bánh K số tiền 214.553.000 đồng.

Đến ngày 08/04/2024 bà M yêu cầu T đi sao kê tài khoản ngân hàng để đối chiếu, nên T biết được thủ đoạn làm giả 03 ảnh chụp lịch sử giao dịch chuyển khoản thành công các ngày 06/12/2023, 03/02/2024, 05/02/2024 để chiếm đoạt tiền của bà M đã bị phát hiện nên đến Hiệu bánh K Mậu T1 lấy đồ dùng cá nhân và chiếm đoạt thêm tiền doanh số bán hàng các ngày 05/04/2024, 06/04/2024, 07/04/2024 với tổng số tiền là 30.506.980 đồng rồi dọn trọ đi nơi khác sinh sống. Tổng số tiền Lê Đoan T đã chiếm đoạt của bà Huỳnh Dương Khiết M là 245.059.980 đồng.

Bà Huỳnh Dương Khiết M đã gửi đơn tố cáo về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của T gửi đến cơ quan điều tra.

Tại cơ quan điều tra, Lê Đoan T thừa nhận: trong thời gian làm việc tại Hiệu bánh Khiết M Mậu T1, do đã tiêu xài cá nhân một phần tiền doanh số bán hàng hằng ngày không còn khả năng trả lại, nên T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền theo doanh số bán hàng. T tìm người làm giả 03 ảnh giả giao dịch chuyển tiền thành công để gửi cho kế toán P nhằm che đậy hành vi chiếm đoạt tiền của Hiệu bánh Khiết M Mậu T1. T thừa nhận nhiều lần chiếm đoạt của tiền của bà Khiết M là 245.059.980 đồng.

Đối với người làm giả 03 ảnh chụp giao dịch chuyển tiền, T tìm kiếm người làm giả ảnh chụp chuyển tiền thành công trên mạng xã hội (Facebook), T đặt làm 03 ảnh giả giao dịch chuyển tiền thành công đến tài khoản của Điền A và bà M, với giá 100.000 đồng/ảnh.

Trong quá trình điều tra, Lê Đoan T đã nộp lại số tiền chiếm đoạt của bà M là 20.000.000 đồng. Cơ quan CSĐT - Công an quận N ra Quyết định xử lý vật chứng số: 2982/QĐ- ĐCSKT-MT ngày 30/10/2024 trao trả lại cho bà Huỳnh Dương Khiết M là chủ hộ kinh doanh HKD Hiệu bánh Khiết M: Tiền Việt Nam 20.000.000 đồng và các hồ sơ hợp đồng liên quan đến Hiệu bánh Khiết M.

Tại bản Cáo trạng số 19/CT – VKSNK ngày 02/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận N, thành phố C đã truy tố bị cáo Lê Đoan T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 3 Điều 175 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản đã nêu trong cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc Lê Đoan T thống nhất bồi thường theo đơn yêu cầu ngày 23/02/2025 của người bị hại bà Huỳnh Dương Khiết M xin vắng mặt tại phiên toà.

- Bị cáo Lê Đoan T thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát không tranh luận.

Bà Huỳnh Dương Khiết M là chủ hộ kinh doanh HKD Hiệu bánh Khiết M có đơn xin xét xử vắng mặt. Bà yêu cầu bị cáo T bồi thường thêm số tiền 214.553.000 đồng là xong trách nhiệm dân sự, không yêu cầu bị cáo trả thêm tiền lãi suất.

Trình bày lời nói sau cùng, T thừa nhận hành vi phạm tội, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét bị cáo thành khẩn nhận tội, biết lỗi lầm, mong Tòa án khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt để sớm về làm công dân tốt, chăm lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai và các tài liệu chứng cứ, tang vật trong hồ sơ vụ án.

Bị cáo lợi dụng được giao nhiệm vụ giữ tiền và lợi dụng lòng tin của bà chủ Hiệu bánh Khiết M Mậu T1 để thực hiện thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt số tiền 245.059.980 đồng để tiêu xài, đây là hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo T có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trên là trái pháp luật nhưng do tham lam tài sản của người khác nên cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 175 Bộ luật hình sự, Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật vừa nêu là đúng quy định.

Nhận định về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Lê Đoan T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên khi lượng hình, được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử thấy mức án mà Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, là có căn cứ.

Về trách nhiệm dân sự: bà Huỳnh Dương Khiết M có đơn xin vắng mặt và yêu cầu Lê Đoan T bồi thường số tiền 214.553.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất. Bị cáo thống nhất ý kiến về việc bồi thường thiệt hại.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, đồng thời phải chịu án phí dân sự trên số tiền phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 175, Điều 38, Điều 48, điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

-Điều 585, 589 Bộ luật dân sự.

- Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Lê Đoan T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Lê Đoan T 05 (năm) năm tù.

Thời hạn tù của Lê Đoan T được tính từ ngày 26/7/2024

Về trách nhiệm dân sự: Lê Đoan T phải trả cho bà Huỳnh Dương Khiết M 214.553.000 đồng (hai trăm mười bốn triệu, năm trăm năm mươi ba ngàn đồng). Không buộc bị cáo phải trả tiền lãi suất trên số tiền phải thi hành án.

Về án phí sơ thẩm: Lê Đoan T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự và 10.727.000 đồng (mười triệu, bảy trăm hai mươi bảy ngàn đồng) án phí dân sự.

Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương đối với người bị hại, người liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố C giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ