- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn V - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình ph t: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2025/HS-ST Ngày 20-5-2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Cường và bà Mùa Thị Mỷ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lường Văn Dục - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2025, t i trụ s Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2025/TLST- HS ngày 09 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Lò Văn V, tên gọi khác: Không, sinh năm 1994, t i huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản T, xã T, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 8/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Lò Văn D (đã chết) và bà Hoàng Thị M; bị cáo có vợ là Vì Thị N (đã ly hôn), và 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt t m giữ, t m giam từ ngày 23/12/2024 cho đến nay. Có mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Văn H, sinh năm 1988. Trú t i: Bản C, xã T, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 23/12/2024, Bị cáo Lò Văn V một mình điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 26N1-089.93 đi từ nhà đến bản Tin T, xã T, huyện Yên Châu mục đích đi tìm mua ma túy để sử dụng, khi đến nơi V gặp một người đàn ông không quen biết, qua trao đổi bị cáo mua được của người này 01 gói ni lon màu xanh bên trong gồm có 06 viên hồng phiến với giá 300.000đ. Có được ma túy bị cáo cầm ma túy trong tay trái rồi điều khiển xe máy về nhà theo đường cũ. Đến 21 giờ 00 phút cùng ngày khi bị cáo đi đến bản Đ, xã T, huyện Yên Châu thì bị tổ công tác Công an huyện Yên Châu bắt quả tang, thu giữ gói ma túy và 01 chiếc xe mô tô có đặc điểm nêu trên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành bóc, m niêm phong, cân tịnh, vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong l i đối với số vật chứng thu giữ của Lò Văn V kết quả như sau: Tiến hành m niêm phong phong bì vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Lò Văn V ngày 23/12/2014, thấy bên trong có 01 gói nilon màu xanh, bên trong chứa 06 viên nén hình trụ tròn, màu hồng. Cân tách bì 06 viên nén hình trụ tròn, màu hồng có tổng khối lượng 0,62 gam. Trích 03 viên có khối lượng 0,31 gam ký hiệu A làm mẫu gửi giám định, còn l i 03 viên có khối lượng 0,31 gam ký hiệu A1 niêm phong cùng mảnh nilon màu xanh vật chứng ban đầu vào 01 phong bì giấy niêm phong nhập kho vật chứng.
T i bản Kết luận giám định số: 108/KL-KTHS ngày 25/12/2024 của Phòng kĩ thuật hình sự, Công an tỉnh Sơn La kết luận:
“- Mẫu ký hiệu A gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,31 gam.
- Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,62 gam; loại Methamphetamine.
- Mẫu giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.”
Về nguồn gốc tổng khối lượng 0,62 gam Methamphetamine thu giữ trong vụ án Lò Văn V khai nhận mua được của người đàn ông không biết tên, địa chỉ, việc mua bán diễn ra t i khu vực vắng người t i bản Tin Tốc, xã T, huyện Yên Châu không có ai chứng kiến.
Do có hành vi nêu trên t i bản cáo tr ng số: 21/CT-VKS ngày 27 tháng 3 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La truy tố Lò Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa sơ thẩm:
Bị cáo Lò Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội của mình là đi mua cất giấu 0,62 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung cáo tr ng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. T i phiên tòa không phát sinh tình tiết mới.
* Tranh luận tại phiên tòa:
Đ i diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn V ph m tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử ph t bị cáo Lò Văn V từ 18 tháng đến 22 tháng tù. Thời h n tù tính từ ngày 23/12/2024 là ngày bắt t m giữ bị cáo.
Không áp dụng hình ph t bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì giấy niêm phong do Công an tỉnh Sơn La phát hành, dán kín, mặt trước ghi: Vật chứng vụ: Lò Văn V có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Niêm phong hồi 10 giờ 20 phút, ngày 24 tháng 12 năm 2024 t i Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La. Bên trong gồm có: 01 mảnh ni lon màu xanh gói vật chứng ban đầu và mẫu ký hiệu A1=0,31 gam Methamphetamine. Mặt sau phong bì có số hiệu 0022566, t i các mép dán có tên và chữ ký các thành viên tham gia niêm phong và 02 dấu tròn đỏ của công an huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.
- Về án phí: Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn V.
Ý kiến của bị cáo Lò Văn V tự bào chữa: Bị cáo nhất trí với bản cáo tr ng và luận tội của đ i diện Viện kiểm sát, không có ý kiến gì thêm.
Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hoàng Văn H: Anh đã cho bị cáo mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệuYamaha màu sơn đỏ đen, BKS 26N1-089.93, anh không biết việc bị cáo dùng chiếc xe mô tô của anh để làm phương tiện đi mua ma túy, sau khi bị cáo bị bắt quả tang chiếc xe mô tô trên đã bị cơ quan chức năng thu giữ, tuy nhiên ngày 06/01/2025 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Châu đã trả l i cho anh chiếc xe mô tô trên, anh không yêu cầu bị cáo phải bồi thường và không có ý kiến đề nghị gì khác.
Lời nói sau cùng của bị cáo Lò Văn V: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi ph m pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo được hư ng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không người nào có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi ph m tội của bị cáo: Ngày 23/12/2024, t i Bản Đông Khùa, xã T, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, bị cáo Lò Văn V bị Tổ công tác Công an huyện Yên Châu phối hợp với các lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang khi đang cất giữ trái phép 0,62 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi ph m tội của bị cáo được chứng minh b ng các căn cứ sau:
- Biên bản bắt người ph m tội quả tang do Tổ công tác Công an huyện Yên Châu lập hồi 21 giờ 00 phút ngày 23/12/2024 t i bản Đông Khùa, xã T, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La đối với Lò Văn V cùng với vật chứng thu giữ là 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa 06 viên nén đồng d ng hình trụ, tròn màu hồng nghi là methamphetamine cùng 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu sơn đỏ, đen, BKS 26N1-089.93.
- Biên bản bóc m niêm phong, cân tịnh vật chứng, lấy mẫu gửi giám định và niêm phong l i vật chứng lập hồi 10 giờ 00 phút ngày 24/12/2024 t i Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La xác định: Bên trong 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa 06 viên nén đồng d ng hình trụ tròn, màu hồng có khối lượng 0,62 gam. Trích 03 viên nén đồng d ng hình trụ tròn, màu hồng có khối lượng 0,31 gam ký hiệu A làm mẫu gửi giám định, còn l i 03 viên nén đồng d ng hình trụ tròn, màu hồng có khối lượng 0,31 gam ký hiệu A1 nhập kho vật chứng.
- Kết luận giám định số 108/KL-KTHS ngày 25/12/2024 của Phòng kĩ thuật hình sự, Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu ký hiệu A gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,31 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,62 gam loại Methamphetamine.
- Lời khai nhận tội của bị cáo Lò Văn V t i Cơ quan điều tra và t i phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với khối lượng ma túy thu giữ và lời khai của anh Nguyễn Lê H, sinh năm 1998, trú t i: Bản T, xã T, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, là người chứng kiến việc bắt người ph m tội quả tang đối với Lò Văn V; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng t i phiên tòa.
Với các căn cứ chứng minh trên có đủ cơ s kết luận hành vi của bị cáo Lò Văn V đã ph m vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội ph m và hình ph t quy định t i Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo tr ng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La truy tố đối với bị cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ.
Về tình tiết định khung hình ph t: Bị cáo Lò Văn V thực hiện hành vi ph m tội với tổng khối lượng ma túy tàng trữ trái phép là 0,62 gam Methamphetamine đã vi ph m tình tiết định khung hình ph t “… Methamphetamine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” quy định t i điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình ph t tù từ 01 năm đến 05 năm.
Về tính chất, mức độ hành vi ph m tội: Bị cáo Lò Văn V là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi ph m pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi ph m tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, trực tiếp xâm ph m đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ n n xã hội và các tội ph m khác, gây ảnh hư ng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội t i địa phương.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định t i Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và t i phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hư ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định t i điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo và là người dân tộc thiểu số cư trú vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên còn được được hư ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định t i khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về mức hình ph t áp dụng: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo ph m tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự nhưng ph m tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, cần áp dụng Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử ph t bị cáo với mức hình ph t tương xứng với nhân thân, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đảm bảo biện pháp giáo dục, cải t o bị cáo tr thành người có ích cho xã hội, đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội ph m t i địa phương và răn đe, phòng ngừa chung.
Về hình ph t bổ sung: Ngoài hình ph t chính, bị cáo Lò Văn V còn có thể bị áp dụng hình ph t bổ sung theo quy định t i khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự “...người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên quá trình điều tra và thẩm vấn công khai t i phiên tòa thấy r ng bị cáo Lò Văn V không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình ph t bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đối với 01 (Một) phong bì giấy niêm phong do Công an tỉnh Sơn La phát hành, dán kín, mặt trước ghi: Vật chứng vụ: Lò Văn V có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Niêm phong hồi 10 giờ 20 phút, ngày 24 tháng 12 năm 2024 t i Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La. Bên trong gồm có: 01 mảnh ni lon màu xanh gói vật chứng ban đầu và mẫu ký hiệu A1=0,31 gam Methamphetamine. Mặt sau phong bì có số hiệu 0022566, t i các mép dán có tên và chữ ký các thành viên tham gia niêm phong và 02 dấu tròn đỏ của công an huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La. Xét thấy đây là những vật chứng liên quan đến việc ph m tội của bị cáo, vật chứng không có giá trị sử dụng, cần vận dụng quy định t i điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu sơn đỏ đen, BKS 26N1-089.93 bị thu giữ khi bắt quả tang bị cáo, quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô này là tài sản của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hoàng Văn H, Anh H không biết bị cáo mượn xe mô tô để sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy, ngày 06/01/2025 cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu đã trả l i cho anh Hoàng Văn H, xét thấy việc trả l i chiếc xe mô tô trên cho chủ s hữu hợp pháp là đúng quy định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hành vi các đối tượng liên quan: Đối với người đàn ông không biết tên, địa chỉ, theo bị cáo Lò Văn V khai nhận là người đã bán ma túy cho bị cáo tuy nhiên việc mua bán ma túy diễn ra t i khu vực vắng người t i bản Tin Tốc, xã T, huyện Yên Châu, không có ai chứng kiến, ngoài lời khai của bị cáo thì không có nguồn tài liệu, chứng cứ nào khác, do đó cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu không có căn cứ xác minh, điều tra và đề nghị xử lý là đúng quy định.
Về án phí: Bị cáo Lò Văn V là người dân tộc thiểu số cư trú vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn V.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình ph t: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lò Văn V ph m tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử ph t bị cáo Lò Văn V 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời h n chấp hành hình ph t tính từ ngày 23/12/2024 (Ngày bắt t m giữ bị cáo).
Không áp dụng hình ph t bổ sung đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì giấy niêm phong do Công an tỉnh Sơn La phát hành, dán kín, mặt trước ghi: Vật chứng vụ: Lò Văn V có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Niêm phong hồi 10 giờ 20 phút, ngày 24 tháng 12 năm 2024 t i Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La. Bên trong gồm có: 01 mảnh ni lon màu xanh gói vật chứng ban đầu và mẫu ký hiệu A1=0,31 gam Methamphetamine. Mặt sau phong bì có số hiệu 0022566, t i các mép dán có tên và chữ ký các thành viên tham gia niêm phong và 02 dấu tròn đỏ của công an huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.
(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Châu).
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn V.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong h n 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (20/5/2025). [Nơi nhận:
| - Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La; - S tư pháp tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Yên Châu; - Công an tỉnh Sơn La; - Tr i giam; - Chi cục THADS huyện Yên Châu; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã Ký) Hoàng Văn Hải |