- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng A C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2025/HS-ST Ngày: 21/01/2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Xuân Thu.
- Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Như; Ông Lò Văn Lâm.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Thế - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên toà: Ông Đỗ Khải Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 21/01/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2024/TLST-HS, ngày 31/12/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2025/QĐXXST-HS ngày 10/01/2025 đối với bị cáo.
Vàng A C - Sinh ngày 10/10/1974, tại huyện T, tỉnh Lai Châu.
Nơi cư trú: Bản S, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vàng A C1 và bà: Thào Thị M ( đều đã chết); Gia đình có 8 anh, chị, em bị cáo là con thứ bảy; Vợ: Vàng Thị S – sinh năm 1970; Bị cáo có 02 con.
Tiền án, tiền sự: Không có.
Về nhân thân: Ngày 10/3/2015, Vàng A C bị Tòa án nhân dân huyện Than Uyên xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (theo Bản án số 36/2015/HSST ngày 10/3/2015). Ngày 31/10/2018, Vàng A C bị Tòa án nhân dân huyện Than Uyên xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (theo Bản án số 57/2018/HSST ngày 31/10/2018). Bị cáo đã chấp hành xong hai bản án trên, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 03/10/2024, tạm giam từ ngày 12/10/2024 hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T. (có mặt)
-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: anh Vàng A S1 – sinh năm 1996.
Trú tại: Bản S, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu. (vắng mặt) -Người làm chứng: Tráng Thị M1 ( vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 03/10/2024, Vàng A C điều khiển xe mô tô mượn của con trai Vàng A S1 (sinh năm: 1996; trú tại bản S, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu) chở Tráng Thị M1 (sinh năm: 1976; cư trú tại bản S, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu) đi từ bản Sắp Ngụa đến bản N, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu, mục đích để tìm mua lợn về mổ ăn mừng lúa mới. Trên đường đi đến gần trường Trung học phổ thông M2 thuộc bản Đội 9, xã P, huyện T, Vàng A C gặp và mua của một người đàn ông không rõ lai lịch 01 gói Heroine (được gói bằng nilon màu hồng) với số tiền 200.000 đồng, mục đích để sử dụng. Quá trình Vàng A C trao đổi, mua bán Heroine, Tráng Thị M1 không biết. Mua được H, Vàng A C cất giấu vào trong túi quần bên phải đang mặc rồi điều khiển xe chở Tráng Thị M1 đi đến ngã ba bản Đội 9, xã P, huyện T ăn phở tại đó. Sau khi ăn xong, Tráng Thị M1 có gặp và mua của một người đàn ông không rõ lai lịch 01 viên hồng phiến với số tiền 50.000 đồng, M1 lấy mảnh nilon màu hồng gói lại ngồi sau xe do C điều khiển đi đến bản Noong Thăng, xã P, huyện T (M không nói cho C biết mình tàng trữ hồng phiến trên người). Trên đường đi, Vàng A C đã lấy gói Heroine cho vào miệng ngậm. Đến hồi 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi Vàng A C chở Tráng Thị M1 đi đến bản N, xã P, huyện T thì bị Tổ Công tác Công an huyện T yêu cầu dừng xe, kiểm tra. Lúc này, Vàng A C đã nhổ gói Heroine đang ngậm trong miệng xuống đường nhằm tiêu hủy vật chứng thì bị lực lượng Công an phát hiện, yêu cầu C nhặt lên giao nộp. Công an huyện T đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Vàng A C, thu giữ 01 gói Heroine (bên ngoài gói bằng mảnh nilon màu hồng). Ngoài ra, lực lượng Công an còn thu giữ của Vàng A C 01 xe mô tô HONDA Wave RSX mang biển kiểm soát 25T1–195.65.
Đối với Tráng Thị M1, khi thấy lực lượng Công an, M1 đã cho gói hồng phiến vào trong miệng rồi nuốt vào trong bụng. Tổ công tác đã đưa Tráng Thị M1 đến trung tâm Y tế huyện T để nội soi kiểm tra thì phát hiện lấy ra trong dạ dày của Tráng Thị M1 có 01 mảnh nilon màu hồng, còn viên hồng phiến đã tan hết.
Tại bản kết luận giám định số 92 ngày 03/10/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc và bản kết luận giám định số 1126 ngày 07/10/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: số chất bột màu trắng thu giữ của Vàng A C có khối lượng 0,49 gam; là ma túy, loại: Heroine (Heroin).
Vật chứng của vụ án gồm: 0,49 gam Heroine thu giữ của Vàng A C, đã trích 0,11 gam gửi giám định (không hoàn lại mẫu vật); vật chứng còn lại 0,38 gam Heroine; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 phong bì bên trong đựng 01 mảnh ni lon màu hồng và 01 vỏ bì niêm phong ban đầu. Các vật chứng còn lại hiện đang được bảo quản theo quy định.
Đối với chiếc xe mô tô HONDA Wave RSX biển kiểm soát 25T1–195.65 thu giữ của Vàng A C. Quá trình điều tra xác định: chiếc xe là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của Vàng A S1 (sinh năm: 1996; trú tại bản S, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu). Khi cho Vàng A C mượn xe, anh S1 không biết Vàng A C dùng vào việc phạm tội. Ngày 15/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh Vàng A S1.
Tại bản cáo trạng số:04/CT –VKS, ngày 30/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đã truy tố bị cáo Vàng A C về tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện T trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vàng A C phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Đề nghị HĐXX Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vàng A C 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,38 gam Heroine; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 phong bì bên trong đựng 01 mảnh ni lon màu hồng và 01 vỏ bì niêm phong ban đầu.
Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì đối với quan điểm của vị đại diện Kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, để bị cáo được sớm trở về hòa nhập với gia đình, xã hội, tự sửa chữa sai lầm để làm người có ích và xin miễn toàn bộ án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 03/10/2024, tại bản Đội 9, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu, Vàng A C đã mua trái phép 01 gói Heroine với số tiền 200.000 đồng của một người đàn ông không rõ lai lịch, mục đích để sử dụng. Đến hồi 10 giờ 30 phút cùng ngày, tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T, Vàng A C bị Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 01 gói Heroine có khối lượng 0,49 gam.
Hành vi nêu trên của bị cáo Vàng A C đã đủ yếu tố cấu thành tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy nội dung bản cáo trạng truy tố, căn cứ pháp luật, mức án đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định.
Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội: Bị cáo có đủ điều kiện để nhận biết. Heroine là chất ma túy gây nghiện, hủy hoại sức khỏe con người và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, nên Nhà nước nghiêm cấm và xử phạt nghiêm khắc đối với bất kỳ ai có hành vi liên quan đến chất ma túy. Nhưng để có ma túy sử dụng, ngày 03/10/2024 bị cáo Vàng A C đã bất chấp pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Nên cần phải xử lý thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng:
Về quá trình nhân thân. Ngày 10/3/2015, Vàng A C bị Tòa án nhân dân huyện Than Uyên xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (theo Bản án số 36/2015/HSST). Ngày 31/10/2018, Vàng A C bị Tòa án nhân dân huyện Than Uyên xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (theo Bản án số 57/2018/HSST ). Bị cáo đã chấp hành xong hai bản án trên, đã được xóa án tích.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Ý thức tu dưỡng, rèn luyện và việc tuân thủ pháp luật của bị cáo không có, khi được tái hòa nhập cộng đồng, xã hội bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, nên bị cáo phải chịu một hình phạt nghiêm khắc hơn. Song quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Nên cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xét giảm phần nào khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo không đảm nhiệm chức vụ nghề nghiệp gì, do đó Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Quá trình điều tra xác định khi Vàng A C mua và cất giấu Heroine, C không nói cho Tráng Thị M1 biết. Do vậy, cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Tráng Thị M1 với vai trò đồng phạm cùng Vàng A C là có căn cứ.
Đối với Vàng A S1 (sinh năm: 1996; cư trú tại bản S, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu) đã cho Vàng A C mượn xe mô tô, sau đó Vàng A C sử dụng xe làm phương tiện đi mua Heroine. Quá trình điều tra xác định: khi cho mượn xe, Vàng A S1 không biết Vàng A C sẽ dùng vào việc phạm tội. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Vàng A S1 với vai trò đồng phạm là có căn cứ.
Về vật chứng còn lại của vụ án gồm: 0,38 gam Heroine; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 phong bì bên trong đựng 01 mảnh ni lon màu hồng và 01 vỏ bì niêm phong ban đầu. Xét thấy số vật chứng này là vật cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
Về nguồn gốc H, bị cáo khai mua của một người không rõ lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và tại phiên tòa bị cáo xin được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm, cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135;136;331;333 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q.
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng A C phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vàng A C 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 03/10/2024.
3. Về vật chứng:
- Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,38 gam Heroine; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 phong bì bên trong đựng 01 mảnh ni lon màu hồng và 01 vỏ bì niêm phong ban đầu.
(Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan CSĐT Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên lập ngày 17/ 01/2025 ).
4. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng A C.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Lên Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Than Uyên. - VKSND tỉnh Lai Châu. - Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu. - Bị cáo, người có QLNVLQ. - CA huyện Than Uyên. - CQTHAHS huyện Than Uyên. - Chi cục THADS huyện Than Uyên. - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LƯỜNG XUÂN THU |