vanban.org

Bản án 36/2025/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 14/01/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/01/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q1.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q1 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn Q1 về Ủy ban nhân dân Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đìn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn T2 và đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q1.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2025/HS-PT
Ngày: 14-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hoài Nam

Các Thẩm phán:

1/ Ông Trần Minh Châu

2/ Ông Trương Công Huấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Viễn Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 14/01/2025, tại Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 466/2024/TLPT-HS, ngày 03/12/2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn Q1 do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 167/2024/HSST, ngày 4/9/2024 của Tòa án nhân dân Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo:

Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1954 tại Hà Nội; Thường trú: đường A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B1 (chết) và bà Phí Thị N (chết); hoàn cảnh gia đình: Có vợ và 03 con (lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất si0nh năm 1993); tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt ngày 11/12/2022 đến ngày 13/12/20222 được trả tự do. Sau đó, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại (Có mặt).

Người bào chữa: Ông Nguyễn D và bà Võ Anh T1, luật sư của Công ty luật A thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Q1 (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 15 giờ ngày 11/12/2022, Trần Văn T2 rủ Nguyễn Ngọc T3 đem theo con gà bướm và rủ Nguyễn Minh H đem theo con gà điều đến bãi đất trống trước số nhà E đường F, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh để tham gia đá gà ăn tiền. T2 làm trọng tài và là người thu tiền xâu, số tiền đá độ chính là 3.000.000 đồng. Khi đến trường gà trên, T3 gặp Nguyễn Văn Q1, do Q1 muốn chơi đá gà ăn tiền cùng với T3 nên T3 hùn 2.000.000 đồng và đồng ý cho Q1 tham gia hùn 1.000.000 đồng bắt gà bướm để đá độ chính với H bắt gà điều với số tiền 3.000.000 đồng, độ này T2 quy đinh bên thắng đưa tiền xâu 200.000 đồng. Tại đây, T2 còn cáp độ cho Văn Hữu Q2 bắt gà bướm đá độ giao hữu với H và Trương Hoàng P bắt gà điều với số tiền 2.000.000 đồng (trong đó H hùn 1.000.000 đồng, P hùn 500.000 đồng và một người nam thanh niên chưa rõ lai lịch hùn 500.000 đồng), độ này T2 quy định bên thắng đưa tiền xâu 100.000 đồng. Sau khi cân gà hai bên thì khối lượng gà bướm và gà điều bằng nhau đều 3,5 kg nên T3 và H tự thoả thuận tỉ lệ ăn thua là đá đồng và ăn đủ tiền. Sau đó, gà bướm do T3 trực tiếp băng cựa và thả gà, còn gà điều do H trực tiếp băng cựa và thả gà. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày 11/12/2022, khi T2 đang làm trọng tài cho gà bướm của T3 đá với gà điều của H thì bị Công an Phường B, Quận C kiểm tra phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T3, Q1 cùng nhiểu tang vật phục vụ cho việc đá gà ăn tiền. Tại đây, Công an Phường B, Quận C phát hiện và đưa P (con bạc đá độ giao hữu) và Trịnh Văn C (con bạc đá hàng xáo) về trụ sở Công an Phường B, Quận C làm rõ. Riêng T2, H, Q2 đã bỏ chạy thoát. Qua truy xét, Công an Phường B, Quận C đã lần lượt đưa T2, H, Q2 về trụ sở làm rõ. Quá trình điều tra, các đối tượng khai nhận như sau: Trần Văn T2 khai nhận: Tấn tổ chức cho các con bạc đá gà ăn tiền tại địa chỉ trên được 02 lần. Lần thứ nhất vào khoảng tháng 11/2022 (không rõ ngày), T2 đứng ra tổ chức cho 02 người nam thanh niên (không rõ lai lịch) đá độ với số tiền 2.000.000 đồng, thu tiền xâu 200.000 đồng. Lần thứ hai là ngày bị bắt quả tang như nêu trên. Tại địa điểm trên, T2 là người trực tiếp làm trọng tài, lấy tiền xâu và cáp độ cho các con bạc tham gia đá độ gà chính và độ gà đá giao hữu kể trên, ngoài T2 ra không còn ai khác phụ giúp. T2 chưa lấy được tiền xâu bên thắng độ thì bị Công an Phường B, Quận C phát hiện, T2 bỏ chạy thoát. Sau khi bị Công an Phường B, Quận C mời lên trụ sở làm việc, T2 đã giao nộp 01 điện thoại di động hiệu Nokia 215 4G. Nguyễn Ngọc T3 khai nhận: T3 đem theo con gà bướm của Nguyễn Văn B2 (B2 không biết, không tham gia đá gà) đến địa điểm trên thì gặp Q1. Sau đó, T3 và Q1 bắt gà bướm tham gia đá độ chính số tiền 3.000.000 đồng với Hbắt gà điều thông qua T2 (T3 hùn 2.000.000 đồng và Q1 hùn 1.000.000 đồng). Khi đến T3 không mang tiền, nếu thua thì T3 sẽ mượn tiền người quen để chung cho H.

Nguyễn Văn Q1 khai nhận: T3 và Q1 bắt gà bướm tham gia đá độ chính số tiền 3.000.000 đồng với H bắt gà điều thông qua T2 (T3 hùn 2.000.000 đồng và Q1 hùn 1.000.000 đồng). Khi đến Q1 mang theo 700.000 đồng để đá gà ăn tiền, nếu thua Q1 sẽ mượn thêm 300.000 đồng để chung cho H.

Nguyễn Minh H khai nhận: H đem theo con gà điều và số tiền 4.000.000 đồng đến địa điểm đá gà trên gặp T3, H bắt gà điều tham gia đá độ chính số tiền 3.000.000 đồng với T3 bắt gà bướm, thông qua T2. Ngoài ra, H và P còn bắt gà điều tham gia đá độ giao hữu số tiền 2.000.000 đồng vơi Q2 thông qua T2 (trong đó H hùn 1.000.000 đồng, P hùn 500.000 đồng và một người nam thanh niên chưa rõ lai lịch hùn 500.000 đồng). Khi bị Công an Phường B, Quận C phát hiện, H bỏ chạy thoát. Sau khi bị Công an mời lên trụ sở làm việc, H đã giao nộp số tiền 4.000.000 đồng kể trên và 01 điện thoại di động A12.

Văn Hữu Q2 khai nhận: Q2 đến địa điểm đá gà trên thì gặp T3 và H, Q2 bắt gà bướm tham gia đá độ giao hữu số tiền 2.000.000 đồng với H và P bắt gà điều thông qua T2. Khi đến, Q2 mang theo 2.000.000 đồng để đá gà ăn tiền. Q2 không tham gia bắt độ gà chính cùng với T3. Khi bị Công an Phường B, Quận C phát hiện, Q2 bỏ chạy thoát. Sau khi bị Công an mời lên trụ sở làm việc thì Q2 đã giao nộp 01 điện thoại di động Nokia 110 màu vàng và số tiền 2.000.000 đồng sử dụng để đánh bạc kể trên.

Trương Hoàng P khai nhân: H đem theo con gà điều rủ P đến địa điểm đá gà trên để đá gà ăn tiền thì gặp Q2. H và P bắt gà điều tham gia đá độ giao hữu số tiền 2.000.000 đồng với Q2 bắt gà bướm thông qua T2 (trong đó H hùn 1.000.000 đồng, P hùn 500.000 đồng và một người nam thanh niên chưa rõ lai lịch hùn 500.000 đồng). P không tham gia bắt độ gà chính cùng với H. Khi bị bắt, P bị tạm giữ số tiền 500.000 đồng kể trên và 01 xe mô tô Honda Wave RSX biển số 59L3-086.18.

Trịnh Văn C khai nhận: Tại địa điểm đá gà trên, C bắt gà bướm đá hàng xáo với một nam thanh niên (chưa rõ lai lịch, đã bỏ chạy thoát) bắt gà điều với số tiền 500.000 đồng không thông qua Tấn, tỉ lệ đá đồng ăn đủ tiền. Khi bị bắt, C bị tạm giữ 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius, biển số: 71B2-324.40 và số tiền 500.000 đồng sử dụng để đánh bạc.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 167/2024/HSST ngày 04/9/2024 của Tòa án nhân dân Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q1 phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s, o khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q1 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được trừ vào thời gian bị tạm giữ từ ngày 11/12/2022 đến ngày 13/12/2022. Ngoài ra, bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về phần hình phạt của các bị cáo khác, phần xử lý vật chứng, phần án phí, quyền và thời hạn kháng cáo của các bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06/9/2024, bị cáo Nguyễn Văn Q1 kháng cáo xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi tóm tắt nội dung, phân tích tính chất vụ án đã đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q1 và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm. Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Q1 trình bày: Luật sư cho rằng bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng Tòa án cấp sơ thẩm cho bị cáo mức hình phạt tù giam là quá nghiêm khắc. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo 03 tình tiết giảm nhẹ nhưng chưa áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 là thiếu sót. Bị cáo có nhân thân tốt, nhiều bệnh nền như viêm dạ dày mãn tính, tăng huyết áp, mỡ trong máu nên đủ điều kiện để được hưởng án treo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, tuổi đã cao (trên 70 tuổi) nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ giáo dục đối với bị cáo và thể hiện tính nhân văn của pháp luật nên mong Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Xét bị cáo Nguyễn Văn Q1 đã có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đá gà được thua bằng tiền, bị cáo Q1 hùn 1.000.000 đồng chung với T3 2.000.000 đồng bắt gà bướm để để đá độ với H bắt gà điều với số tiền 3.000.000 đồng (số tiền 02 cánh đá độ là 6.000.000 đồng). Do vậy, Tòa án nhân dân Quận C xét xử bị cáo Nguyễn Văn Q1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 là có cơ sở, đúng người, đúng tội, không oan sai. [2] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: đơn kháng cáo của bị cáo nằm trong thời hạn luật định là hợp lệ. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Q1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã trên 70 tuổi, từ đó áp dụng cho bị cáo Q1 các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s, o khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ đó, xử phạt bị cáo Q1 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”.

Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được chuyển từ hình phạt tù sang một hình phạt khác như phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc được hưởng án treo.

Hội đồng xét xử xét thấy: Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo Q1 các tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s, o khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định bị cáo có nhiều bệnh nền, sức khỏe yếu nhưng không áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là thiếu sót nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết này.

Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hiện tuổi đã cao (trên 71 tuổi), sức khỏe suy giảm, có nhiều bệnh nền: bệnh cao huyết áp, rối loạn chuyển hóa lipid máu, viêm loét dạ dày, trào ngược thực quản, đau xương khớp, trí nhớ kém, sức khỏe yếu phải dùng thuốc thường xuyên (có hồ sơ bệnh án, đơn thuốc), hoàn cảnh neo đơn, hai vợ chồng già mất sức lao động phải nương tựa lẫn nhau, bản thân bị cáo có lai lịch rõ ràng, địa chỉ thường trú tại địa phương, chưa có tiền án, tiền sự, trước lần phạm tội này luôn tuân thủ các quy định của pháp luật nên không cần thiết áp dụng hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, phòng ngừa và phù hợp với quy định của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/20218 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (sửa đổi bởi Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao) và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Do đó, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận kháng cáo của bị cáo Q1, sửa bản án hình sự sơ thẩm và cho bị cáo được hưởng án treo.

Các vấn đề khác: Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q1. Sửa bản án hình sự sơ thẩm.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s, i, o khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q1 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn Q1 về Ủy ban nhân dân Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nguyễn Văn Q1 có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015. 2. Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm. 3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo)

Cỡ chữ