- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị C ly hôn với anh T"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2025/HNGĐ-ST Ngày: 09-9-2025 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Công Gia
2. Ông Nguyễn Hồng Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Huỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Đồng Nai, xét xử công khai vụ án thụ lý số 174/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22/8/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Phạm Thị Bạch T – sinh năm 1988
Nơi cư trú: ấp Bình Nghĩa, Đ, tỉnh V (phường 6, thành phố B, tỉnh Bến
Tre cũ).
- Bị đơn: anh Nguyễn Tấn Ph – sinh năm 1990
Nơi cư trú: ấp 2, xã T, (xã Tà Lài, huyện Tân Phú cũ), tỉnh Đồng Nai
(chị Tuyết, anh Ph vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 11/4/2025; lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử nguyên đơn là chị Phạm Thị Bạch T trình bày:
Về hôn nhân: Chị T và anh Ph tìm hiểu và tự nguyện tiến đến hôn nhân năm 2015 đăng ký kết hôn vào ngày 03/11/2015 tại (UBND phường 6, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre cũ) nay là phường Sơn Đông, tỉnh Vĩnh Long. Đời sống hôn nhân vợ chồng chị hạnh phúc đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung nên hay cãi vã, xung đột. Từ năm 2019 cho đến nay chị và anh Ph không còn sống chung với nhau. Nay tình cảm không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Tấn Phát.
Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Tấn Đ - sinh ngày 14/4/2016. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu Đạt, không yêu cầu anh Ph cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Tấn Phát: Sau khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng anh Ph vẫn không đến Tòa án làm việc theo giấy triệu tập của Tòa án tại các buổi làm việc, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án không thể tiến hành ghi nhận ý kiến của anh Phát.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát Ph biểu ý kiến:
Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; về quan hệ pháp luật, xác định tư cách pháp lý của đương sự, thẩm quyền thụ lý của Tòa án, thủ tục thu thập chứng cứ đúng quy định; quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ, thủ tục cấp tống đạt cho các đương sự đảm bảo theo quy định pháp luật. Các quyền nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo thực hiện. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tiến hành tố tụng đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng chấp hành đúng pháp luật nên Viện kiểm sát không có ý kiến hay kiến nghị gì.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Tuyết, cho chị Phạm Thị Bạch T được ly hôn với anh Nguyễn Tấn Phát.
- Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Tấn Đạt - sinh ngày 14/4/2016 cho chị T nuôi dưỡng, anh Ph không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị T không yêu cầu.
- Về tài sản, nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có Ph sinh tranh chấp.
- Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm về ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: bị đơn anh Nguyễn Tấn Ph cư trú xã Tà Lài, tỉnh Đồng Nai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Đồng Nai theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật: Chị T yêu cầu khởi kiện ly hôn tranh chấp nuôi con chung nên xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về xác định tư cách đương sự: chị Phạm Thị Bạch T là nguyên đơn; anh Nguyễn Tấn Ph là bị đơn theo Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Ph nhưng anh Ph vắng mặt mà không có lý do chính đáng; chị T có đơn xin xét xử vắng mặt vì vậy Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án:
Về hôn nhân: Chị Tuyết, anh Ph tự nguyện đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn vào ngày 03/11/2015 tại UBND phường 6, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre cũ) nay là phường Sơn Đông, tỉnh Vĩnh Long. Vì vậy, hôn nhân giữa chị Tuyết, anh Ph là hôn nhân hợp pháp được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Đời sống hôn nhân của chị Tuyết, anh Ph hạnh phúc đến năm 2019 thì Ph sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường hay cãi vã, xung đột. Chị Tuyết, anh Ph hiện nay đã không còn sống chung với nhau từ năm 2024 cho đến nay, vợ chồng không ai quan tâm đến ai, việc này phù hợp với biên bản xác minh về mâu thuẫn vợ chồng. Từ những lý do nêu trên, xác định được chị Tuyết, anh Ph trong quá trình sống chung đã không còn thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình; làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình thì yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh Ph là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Xét thấy từ khi chị Tuyết, anh Ph không còn sống chung thì con chung do chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, con chung được đi học và sống trong môi trường đảm bảo các điều kiện Ph triển tốt về mọi mặt. Vì vậy, căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cháu Nguyễn Tấn Đ - sinh ngày 14/4/2016 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, anh Ph không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Ph có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản và nợ chung: Tòa án không xem xét, không giải quyết.
Về án phí: Chị Phạm Thị Bạch T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 68, 147, 207, 220, 227, 228, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 19, 51, 53, 54, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Bạch T. Chị Phạm Thị Bạch T được ly hôn với anh Nguyễn Tấn Ph.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Tấn Đạt - sinh ngày 14/4/2016 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, anh Ph không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Ph có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản và nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Phạm Thị Bạch T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm về ly hôn. Được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai số 0020995 ngày 11/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8 – Đồng Nai, Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai). Chị T đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND Khu vực 8 – Đồng Nai; - Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai; - Các đương sự (để thi hành); - UBND phường Đ, tỉnh Vĩnh Long (phường 6, thành phố B, tỉnh Bến Tre cũ), để ghi vào sổ hộ tịch ĐK ngày 03/11/2015) - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tuấn |