- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? 1/ Áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2025/HNGĐ-ST Ngày: 31-12-2025 v/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 – LÂM ĐỒNG
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Lâm Thị Mỹ Kỷ
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Minh Lợi
Ông Phan Hoài Bảo
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Văn Hồng Lễ – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 14 – Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 14 – Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 105/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2025/QĐHPT – HNGĐ, ngày 15/12/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn N, sinh năm 1997.
Địa chỉ: khu phố 04, phường A, tỉnh Khánh Hòa.
Bị đơn: Ông Đỗ T, sinh năm 1991.
Địa chỉ: thôn Vĩnh S, xã Vĩnh H, tỉnh Lâm Đồng.
(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn N trình bày: Bà và ông Đỗ T tự nguyện tìm hiểu yêu thương nhau, hai bên gia đình không tổ chức lễ cưới hỏi cho ông bà, ông bà có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh H, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận vào ngày 08/8/2024.
Cuộc sống hôn nhân giữa bà và ông Đỗ T thường xuyên mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông Đỗ T thường hay nhậu nhẹt, mỗi khi mâu thuẫn là ông Đỗ T thường dùng những lời lẽ không hay để xúc phạm và đánh đập bà. Bà đã cố gắng nhẫn nhịn, tha thứ, mong ông Đỗ T thay đổi nhưng ông Đỗ T vẫn tính nào tật nấy không chịu thay đổi. Tháng 8/2025 ông Đỗ T tiếp tục có hành vi đánh đập bà, sau đó bà đã chuyển về nhà mẹ bà ở Khánh Hòa sinh sống, từ đó đến nay bà và ông Đỗ T ly thân, không ai quan tâm đến ai. Bà đã thông báo cho ông Đỗ T việc bà làm đơn ly hôn, nhưng ông Đỗ T không đồng ý ly hôn. Sau khi Tòa án thông báo vụ kiện ly hôn của bà thì ông Đỗ T nhiều lần gọi điện năn nỉ bà rút đơn để hàn gắn, tuy nhiên việc ông Đỗ T đánh đập đã trở thành nổi ám ảnh do đó bà không thể quay về tiếp tục sống chung với ông Đỗ T được nữa. Nay nhận thấy đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Đỗ T.
Về con chung: Trong giai đoạn hôn nhân bà và ông Đỗ T không có con chung.
Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Đỗ T: theo biên bản xác minh tại thôn Vĩnh S, xã Vĩnh H, tỉnh Lâm Đồng thì ông Đỗ T có hộ khẩu tại thôn Vĩnh S, xã Vĩnh H, tỉnh Lâm Đồng và hiện đang có mặt tại địa phương. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến ngày xét xử, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Đỗ T theo đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật đã quy định nhưng ông Đỗ T từ chối nhận văn bản của Tòa và cố tình vắng mặt cũng như không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – Lâm Đồng phát biểu ý kiến kiểm sát về việc tuân theo pháp luật:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
Việc tuân theo pháp luật của thư ký phiên tòa: thư ký đã tuân thủ theo đúng quy định tại các Điều 237 và Điều 239 Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án:
Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Nguyễn N đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70 và Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn ông Đỗ T thực hiện không đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của người tham gia tố tụng theo quy định tại các Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tại phiên tòa bị đơn ông Đỗ T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn N. BàNguyễn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn N khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Đỗ T, do đó đây là vụ án “Ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Đỗ T có nơi cư trú tại thôn Vĩnh S, xã Vĩnh H, tỉnh Lâm Đồng. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 14 – Lâm Đồng được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa ông Đỗ T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để tiến hành xét xử vắng mặt ông Đỗ T theo đúng quy định của pháp luật.
Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Theo lời trình bày của nguyên đơn, cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì bà Nguyễn N và ông Đỗ T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vĩnh H, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận vào năm 2024 nên hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp.
BàNguyễn N trình bày vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là ông Đỗ T thường hay nhậu nhẹt, xúc phạm và đánh đập bà. Từ tháng 8 năm 2025 đến nay bà và ông Đỗ T ly thân, không ai quan tâm đến ai. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập nhưng ông Đỗ T không chấp hành, điều này chứng tỏ ông Đỗ T không có thiện chí và không có mong muốn hàn gắn tình cảm với bàNguyễn N.
Nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa bàNguyễn N và ông Đỗ T đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, để đảm bảo quyền lợi của các đương sự và để ổn định cuộc sống cho các bên, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn N.
Về con chung: BàNguyễn N và ông Đỗ T không có con chung nên không xem xét giải quyết quan hệ này.
Về tài sản chung và nợ chung: bàNguyễn N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết quan hệ này.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – Lâm Đồng là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
Về án phí: căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án thì bàNguyễn N là người có yêu cầu ly hôn nên phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc giải quyết ly hôn.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án.
2/ Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn N đối với ông Đỗ T.
Bà Nguyễn N được ly hôn với ông Đỗ T.
3/Về án phí: bà Nguyễn N phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc giải quyết ly hôn. BàNguyễn N đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại biên lai thu số 0004242 ngày 08/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng, bàNguyễn N đã nộp đủ án phí.
4/ Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt nguyên đơn, báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 14 – Lâm Đồng - Phòng THADS khu vực 14 – Lâm Đồng; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lâm Thị Mỹ Kỷ |