vanban.org

Bản án 36/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn

Buộc bà Nguyễn Thị L và ông Bùi Quốc C phải có trách nhiệm L đới trả cho ông Dương Chí C số tiền mua bán còn nợ tổng cộng là 54.623.500 (năm mươi bốn triệu sáu trăm hai mươi ba nghìn năm trăm) đồng. Trong đó: Tiền nợ gốc là 34.000.000 (ba mươi bốn triệu) đồng; tiền lãi là 20.623.500 (hai mươi triệu … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Cơ - Liên, Cường"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn
  • Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VỊ THANH
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2025/DS-ST.
Ngày 11 – 3 – 2025.
V/v Tranh chấp hợp đồng
mua bán tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Như Nguyện.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Thanh Nhân.

Ông Cao Chí Khá.

- Thư ký phiên toà: Ông Lý Sơn Thanh Phong. Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.

Ngày 11 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vị Thanh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 226/2024/TLST – DS, ngày 15 tháng 10 năm 2024, về việc tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2025/QĐXXST – DS, ngày 13 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 15/2025/QĐST – DS ngày 27 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Dương Chí C.

Địa chỉ: Khu vực 1, phường VII, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. (Có mặt).

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L.

Ông Bùi Quốc C.

Cùng địa chỉ: Ấp Thạnh Phú, xã Hỏa Lựu, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện gửi Toà án và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Dương Chí C trình bày: Từ ngày 25/4/2018 đến ngày 17/02/2019, vợ chồng bà Nguyễn Thị L và ông Bùi Quốc C có mua vật liệu xây dựng của ông, ông đã giao hàng đầy đủ theo yêu cầu của bà L và ông C. Khi mua vật liệu xây dựng bà L, ông C có trả một phần, còn nợ lại một phần. Sau khi thanh toán một phần tiền nợ đến ngày 20/01/2020, bà Nguyễn Thị L và ông Bùi Quốc C còn nợ số tiền là 34.000.000 đồng. Ông đã yêu cầu thanh toán nhiều lần nhưng bà L và ông C vẫn chưa trả số nợ nêu trên. Nay ông Dương Chí C yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị L và ông Bùi Quốc C phải có trách nhiệm trả số tiền mua vật liệu xây dựng còn nợ là 34.000.000 đồng và tính lãi suất theo quy định của pháp luật trên số tiền còn nợ nêu trên từ ngày 17/02/2019 cho đến khi vụ án được xét xử.

Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Dương Chí C giữ nguyên yêu cầu khởi kiện nêu trên.

Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị L và ông Bùi Quốc C đã được Toà án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng đều vắng mặt, nên chưa trình bày ý kiến và đưa ra yêu cầu của mình.

Tại phiên tòa bị đơn bà Nguyễn Thị L và ông Bùi Quốc C vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Ông Dương Chí C khởi kiện đối với bà Nguyễn Thị L và ông Bùi Quốc C yêu cầu thanh toán tiền mua bán vật liệu xây dựng còn nợ theo hợp đồng mua bán nên Tòa xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp về hợp đồng dân sự, cụ thể là tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là bà Nguyễn Thị L và ông Bùi Quốc C có nơi cư trú khi xác lập giao dịch tại ấp Thạnh Phú, xã Hỏa Lựu, thành phố Vị Thanh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp Hội đồng xét xử xét thấy: Ông Dương Chí C có hợp đồng mua bán vật liệu xây dựng với vợ chồng bà Nguyễn Thị L, ông Bùi Quốc C. Quá trình thực hiện hợp đồng ông Dương Chí C đã hoàn thành việc giao hàng cho bà L và ông C. Sau khi nhận vật liệu bà L và ông C có trả một phần, hiện còn nợ lại số tiền 34.000.000 đồng từ ngày 17/02/2019 đến nay không thanh toán tiếp cho ông Dương Chí C là vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã tạo điều kiện cho các đương sự đến Tòa án hòa giải để trình bày và thỏa thuận với nhau về số tiền nợ nhưng bà L và ông C đều vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được. Bà L và ông C cũng không cung cấp cho Tòa án chứng cứ gì để chứng minh là không có nợ hoặc đã trả hết nợ cho ông Dương Chí C. Căn cứ khoản 1 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự quy định “đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Do bà L và ông C không đưa ra được chứng cứ để chứng minh là không có nợ, trong khi ông Dương Chí C cung cấp được Biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ còn nợ số tiền mua bán là 34.000.000 đồng, có chữ ký xác nhận của bà Nguyễn Thị L, nên Hội đồng xét xử xác định việc khởi kiện của ông Dương Chí C là có căn cứ chấp nhận.

Về lãi suất chậm thanh toán: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Dương Chí C yêu cầu tính lãi suất chậm thanh toán là có cơ sơ theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Quá trình giải quyết vụ án các đương sự không có thỏa thuận về lãi suất nên tính mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 với mức lãi suất 10%/năm (0,83%/tháng) từ ngày 17/02/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm 11/3/2025, cách tính lãi như sau:

34.000.000 đồng x 0,83% x 2.214 ngày : 30 = 20.623.500 đồng.

Tổng cộng tiền gốc và tiền lãi bà Nguyễn Thị L và ông Bùi Quốc C phải có trách nhiệm trả cho ông Dương Chí C là: 34.000.000 đồng + 20.623.500 đồng = 54.623.500 đồng.

Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí kèm theo. Buộc bị đơn phải chịu án phí theo quy định.

Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị L và ông Bùi Quốc C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập đến dự phiên tòa sơ thẩm lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147 và Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Các Điều 430, 440 và Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí kèm theo.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn

1. Buộc bà Nguyễn Thị L và ông Bùi Quốc C phải có trách nhiệm L đới trả cho ông Dương Chí C số tiền mua bán còn nợ tổng cộng là 54.623.500 (năm mươi bốn triệu sáu trăm hai mươi ba nghìn năm trăm) đồng. Trong đó: Tiền nợ gốc là 34.000.000 (ba mươi bốn triệu) đồng; tiền lãi là 20.623.500 (hai mươi triệu sáu trăm hai mươi ba nghìn năm trăm) đồng.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị L và ông Bùi Quốc C phải L đới chịu 2.731.175 (hai triệu bảy trăm ba mươi mốt nghìn một trăm bảy mươi lăm) đồng. Ông Dương Chí C được nhận lại 1.810.000 (một triệu tám trăm mười nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001153 ngày 11/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.

3. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thoả thuận hoặc theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.

4. Nguyên đơn là ông Dương Chí C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn là bà Nguyễn Thị L và ông Bùi Quốc C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ